Vũ Đình Long - người kéo màn sân khấu Việt hiện đại
(TuanVietNam) - Người đầu tiên trong công cuộc khai sơn phá thạch cho sân khấu Việt hiện đại chính là nhà viết kịch Vũ Đình Long, với “Chén thuốc độc”, kịch 3 hồi, đăng trên tạp chí Hữu Thanh, số 4-5, công diễn lần đầu tại Nhà hát Lớn Hà Nội, đêm 22/10/1921.
Từ một ước mơ đến một hiện thực kịch
Cũng như học giả Nguyễn Văn Vĩnh - người đầu tiên “Việt Nam hoá” ảnh hưởng của văn hoá phương Tây bằng nghệ thuật dịch chữ Pháp sang chữ quốc ngữ, trường hoạt động văn hoá nghệ thuật của Vũ Đình Long rất rộng rãi, thể hiện không những trong lĩnh vực in ấn, xuất bản, báo chí… Chỉ khác là ông không bắt đầu bằng công việc dịch kịch Tây như Nguyễn Văn Vĩnh.
![]() |
|
Vũ Đình Long. Ký họa: Hoàng Lập Ngôn |
Vũ Đình Long xông thẳng vào viết kịch, bằng chữ quốc ngữ, về những vấn đề gia đình, trong xã hội người Việt, vốn là một dân tộc nông dân, nay phải sống trong một xã hội nửa mùa, đầy biến động phức tạp ở những đô thị được kiến trúc theo phương Tây, với lối sống “Âu hoá” hết sức mới lạ đối với dân tộc Việt, lại trong tình thế bị cưỡng đoạt về văn hoá, bắt buộc bị “Âu hoá”.
Có thể nói, trong tình thế ấy, đã nảy sinh một thứ tự ái dân tộc trong những người có “Tây học”. Vũ Đình Long là một người Việt “chính hiệu”, chắc chắn ông không viết kịch trên một cơ sở “phi văn hoá truyền thống”.
Chắc chắn ông thừa biết bản chất sân khấu ước lệ Việt trong các khâu hình thành vở diễn chèo cổ, tuồng cổ và kể cả sự thất thế của hai loại sân khấu truyền thống này trong các đô thị Việt đầu thế kỉ XX; nhất là ở Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn, những đô thị đã lần lượt được người Pháp xây dựng các nhà hát hoàn toàn theo kiến trúc phương Tây, chỉ dành cho việc biểu diễn các loại hình nghệ thuật trình diễn kiếu Tây, (tất nhiên có trình diễn kịch Tây), cho người Tây xem.
Phải nói ngay rằng, cái hình thái tả thực về hiện thực, được viết theo luật tam duy nhất, bằng chữ quốc ngữ của thể loại kịch, mới được người Việt sử dụng có hiệu quả trong báo chí và văn chương lúc bấy giờ, có thể coi như một cuộc cách mạng lớn trong sân khấu vào đúng thời điểm lịch sử ấy.
Nhất là đối với công chúng Việt, về căn bản, vẫn là những người nông dân Việt, sống hàng nghìn năm trong không gian văn hoá gốc châu thổ Bắc bộ, vốn chẳng hề xa lạ với sân khấu rối nước, chèo cổ, tuồng cổ, với những tuồng tích đã thuộc nằm lòng.
Trong bối cảnh vẫn đậm đà những yếu tố mang tính văn hoá bản địa ấy, “Chén thuốc độc” trước hết đã là một cuộc cách mạng theo lối tả thực trong cách viết kịch theo kiểu Tây, đã bất ngờ gây chấn động vào thời điểm mà nó ra đời.
Có thể nói đó là một “cú hích” mang tính cách mạng, khởi đầu cho quá trình gồm một chuỗi những chuyển động tất yếu, để dẫn đến buổi công diễn lần đầu vở “Chén thuốc độc” ngày 22/10/1921 tại một địa điểm cố định và lộng lẫy: Nhà hát Lớn Hà Nội.
Lần đầu tiên, một kịch bản viết theo lối tả thực của sân khấu Tây, là “Chén thuốc độc” ra đời, do một người Việt viết bằng tiếng Việt, về vấn đề xã hội Việt, đang xảy ra, đuợc chính người Việt dàn dựng và biểu diễn, cho công chúng đô thị Việt đầu thế kỉ XX thưởng thức và suy ngẫm.
Như thế, ngày 22/10/1921 đã trở thành ngày khai sinh nền kịch Việt hiện đại ngay trong lòng chế độ thuộc địa Pháp tại Việt Nam.
Về nghệ thuật sân khấu, có thể cho rằng, ngay trong tình thế bị động về giao lưu văn hoá với Phương Tây, người Việt đã và vẫn có thể “Việt Nam hoá” một thể cơ bản của sân khấu kịch Phương Tây, nhằm tích hợp và cộng sinh cho công cuộc hiện đại hoá sân khấu của chính mình, ngay tại thời điểm khó khăn phức tạp đó, và xa hơn, về sau này, khi đã giành được độc lập, hội đủ tiền đề văn hoá cho quá trình “chuyên nghiệp hoá” sân khấu, với một diện mạo sân khấu Việt định hình như hôm nay. (Tất nhiên, trong sự thăng trầm mang tính quy luật phát triển nội tại của sân khấu Việt hiện đại).
|
Vũ Đình Long (19/12/1896 - 14/8/1960) là chủ nhà in, NXB Tân Dân và nhiều tờ báo quan trọng, gắn liền với văn nghiệp của nhiều tác giả lớn của thế kỷ XX, như: Tiểu thuyết thứ Bảy, Phổ thông bán nguyệt san, Ích hữu... |
Chính cái sĩ diện dân tộc khoẻ mạnh ấy đã dẫn đến một giấc mơ lãng mạn, rằng vào một ngày nào đó, trên sân khấu Việt sẽ “diễn những vở hài kịch theo lối Thái Tây để bổ ích cho nhân tâm và phong tục nước nhà”. (Cũng theo “Thực nghiệp dân báo”).
Quả là Vũ Đình Long đã làm được điều phi thường này trong kịch bản “Chén thuốc độc”. Ông đã cấu trúc ba hồi kịch, trên ý thức cách tân “hí kịch lời mới, chia làm ba hồi”, mỗi hồi bao gồm một số cảnh, mà ông gọi theo tiếng Pháp là “sen” ( Hồi một có 14 sen, Hồi hai 13 sen, hồi ba 11 sen, tổng cộng 38 sen).
Bảng nhân vật của ông chia theo giới tính nam nữ rõ ràng, 13 nhân vật nam và 5 nhân vật nữ. Tính kịch dựa trên trục cơ bản là xung đột nội bộ trong một gia đình Hà Nội giàu có, gồm hai thế hệ: mẹ thầy Thông Thu và vợ chồng thầy Thông Thu, em gái thầy Thông Thu, cùng vài nhân vật “vệ tinh” của gia đình này.
Vũ Đình Long muốn thông qua miêu tả cái bi hài kịch trong cuộc sống riêng của gia đình này, mà nâng cấp lên tấn trò đời thế sự ở đô thị Việt Nam, và ông những muốn phô diễn “những nết hay, tật xấu của người đời, lấy tư cách những nhà diễn thuyết mà để mình vào trong các vai tuồng, mong vì đời mà cảnh tỉnh”.
Rõ ràng, từ mơ ước dường như không tưởng của Nguyễn Văn Vĩnh, khi xem “Le Cid” ở Nhà hát Lớn tại Marseille, Pháp, năm 1906, cho đến “Chén thuốc độc” của Vũ Đình Long được công diễn năm 1921 ở Nhà hát Lớn Hà Nội, tại Việt Nam sau 15 năm, đã thực chứng: mơ ước đã trở thành hiện thực, cố nhiên, phải trải qua một con đường gập ghềnh chông gai.
Bởi quá trình diễn kịch kiểu Tây ở Việt Nam hoàn toàn theo con đường tự học, kiểu “bắt chước”, không hề qua bất cứ một trường lớp đào tạo cơ bản nào về sân khấu của người Pháp.
Từ “học lóm” kiểu tài tử đến kịch Việt hiện đại
Cách viết tả thực mô phỏng kịch Pháp, chọn lựa được vấn đề căn cơ về văn hoá đô thị là bi kịch về văn hoá của gia đình Việt trong xã hội nhiễu nhương lẫn lộn chất đô thị kiểu Tây, chất phong kiến Việt và căn tính nông dân thời bấy giờ, đã làm người xem Việt thoả mãn về thưởng ngoạn.
![]() |
Báo chí Hà thành đồng thanh đánh giá: ngày hôm nay, 22/10/1921, là một ngày kỉ niệm lớn trong văn hoá sử nước nhà, và văn hoá sử nước ta sau này chép đến lối văn kịch có lẽ sẽ bắt đầu từ bản kịch “Chén thuốc độc” này của Vũ Đình Long.
Sự thành công về kịch bản mạnh đến mức, thay vì đánh giá kịch bản phải thông qua vở diễn sân khấu, được kiến trúc trên ngôn ngữ dàn dựng và biểu diễn của diễn viên, thì hầu như toàn thể công chúng và báo chí chỉ chú mục vào ngợi khen “văn kịch” Vũ Đình Long và sự khai sinh của “Chén thuốc độc” trong “văn hoá sử nước nhà”.
Đằng sau sự việc này, hoàn toàn có thể luận ra rằng, ngôn ngữ dàn cảnh của đạo diễn, ngôn ngữ sắm vai kịch của diễn viên lúc bấy giờ đã hoàn toàn nương theo lối minh hoạ kịch bản, là cái “loa phát ngôn” cho ý đồ cảnh tỉnh về sự băng hoại đạo đức gia đình trong xã hội Việt đầu thế kỉ XX của kịch bản “Chén thuốc độc”.
Như thế, cũng có nghĩa rằng, kể từ 1921 trở đi, kịch nghệ Việt đã chuyển động bởi một cú hích mang tính tài tử, “học lóm” được cái vỏ Tây để chứa đựng những tấn trò đời Việt trong đô thị Việt theo kiến trúc Tây, nhằm “Âu hoá” lối sống Việt.
Cuộc “học lóm” này cũng đi theo đúng các công đoạn trong chuỗi sáng tác vở diễn kiểu Tây, bao giờ cũng bắt đầu từ kịch bản văn học, rồi đến nghệ thuật dàn dựng của đạo diễn và nghệ thuật biểu diễn của diễn viên, cùng với nghệ thuật thưởng ngoạn đúng cách của công chúng hiện đại.
Hoàn toàn đúng quy luật khi các nhà nghiên cứu sân khấu thế giới cho rằng: tính hiện đại là linh hồn thể loại kịch.
Cũng hoàn toàn có thể hiểu, việc viết kịch theo lối tả thực, miêu tả cuộc sống như hình thái vốn có, trong sự chặt chẽ của luật tam duy nhất của phương Tây, sẽ từ Vũ Đình Long ảnh hưởng dài dài về sau này, đến cả một đội ngũ các nhà viết kịch hiện đại Việt: Thế Lữ, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Khắc Khoan, Nguyễn Huy Tưởng, Xuân Trình, Hoài Giao, Tất Đạt, Đào Hồng Cẩm, Nguyễn Đình Thi,… và đặc biệt Lưu Quang Vũ, nhà viết kịch đoản mệnh nhưng lẫy lừng trong thời văn nghệ Việt Nam đổi mới, bất đầu từ những năm 80 của thế kỉ XX.
Mặt khác, cũng phải nhận rằng, trong “thời buổi” Vũ Đình Long, chính vì tất cả các công đoạn sang tác kịch đều là “học lóm” theo lối kịch “Thái Tây”, nên tất cả đều được sáng tạo phi chuyên nghiệp, theo cách gọi bấy giờ là amatơ -“tài tử”- không qua một trường lớp đào tạo chính quy nào.
Vì thế, một từ thông dụng thường được dùng ám chỉ cách làm kịch mò mẫm, thủ công này, chính là “chơi kịch”. Cũng do đó, tính ấu trĩ và tính nghiệp dư từ cái thuở ban đầu kịch nghệ ấy, cũng là điều không tránh khỏi.
Trong tư thế bị lệ thuộc của một nước thuộc địa và trong tâm thế bị áp đặt về văn hoá, nên toàn bộ sự cố gắng của những-người-sân-khấu Việt, vẫn chỉ dừng lại ở việc “chơi kịch” theo cách tài tử, với sự nghiệp dư về các phương diện kịch nghệ.
Song, có điều chắc, không có Vũ Đình Long đặt bước chân đầu tiên khai phá, thì không thể có “giấy khai sinh” cho nền văn học kịch Việt, cũng như không có nhà dàn cảnh Thế Lữ thì sẽ không có nghề đào diễn được chuyên nghiệp hoá ở Việt Nam.
Cũng như không có những diễn viên nghiệp dư sáng chói như những văn nghệ sĩ kể trên khơi dòng diễn xuất, thì sẽ không có sân khấu diễn kịch chuyên nghiệp ở Việt Nam.
Và nữa, nếu công chúng đô thị Việt ngay từ đầu thế kỉ XX không “phải lòng” tính hiện đại của kịch Tây, đã được Việt Nam hoá như “Chén thuốc độc” của Vũ Đình Long, thì làm sao trong thực đơn thưởng thức sân khấu của công chúng hiện đại, thể loại kịch luôn chiếm vị trí đầu bảng như nửa cuối thế kỉ XX, cho đến tận hôm nay!
Nhất là khi, sang nửa cuối thế kỉ XX, năm 1954, khi Việt Nam bắt đầu lần tiếp xúc văn hoá thứ hai của sân khấu kịch Việt với phương Tây, trên tư thế độc lập của một quốc gia và trên tâm thế tự chủ của một dân tộc, những người-sân-khấu-Việt đã phát triển sân khấu hiện đại của mình, với một chiến lược đúng đắn: Học tập, tiếp thu tinh hoa sân khấu thế giới, đặng làm giàu cho sân khấu Việt Nam trong quá trình hiện đại hoá…
Từ “Chén thuốc độc” của Vũ Đình Long, sân khấu Việt đã đi qua chặng đường dài non một thế kỷ.
Vũ Đình Long chính là người đầu tiên kéo bức màn nhung, mở màn ngoạn mục cho sân khấu kịch Việt Nam hiện đại…
-
PGS.TS. Nguyễn Thị Minh Thái

