Sự kiện nóng
Nhân vật trong ngày
Thông tin đa chiều
Nghe xem đọc
Thế giới truyền thông
Tư liệu & Suy ngẫm
Harvard'S
Trực tuyến cùng TOP
Đăng ký nhận bản tin
ẢNH ẤN TƯỢNG
0h ngày 1/1/2009 (giờ Việt Nam), thời tiết giá rét cũng không ngăn được hàng vạn người Hà Nội kéo ra bờ hồ Hoàn Kiếm để mừng đón tết dương lịch.
BẢN NHẠC HÔM NAY
SÁCH HAY NÊN ĐỌC
Cũng như những nhân vật của Đoàn Minh Phượng, chúng ta đôi khi muốn an toàn trong ngôi nhà của mình, và nghe tiếng mưa rơi như gõ nhịp, nhẩm theo một bài hát và đến một lúc nào đó chúng ta nghĩ đến cả một phòng mưa.
Kinh tế VN: Không khủng hoảng, nhưng có tăng trưởng bền vững?
19/11/2008 07:53 (GMT + 7)
"Cần phải điều chỉnh cắt giảm triển vọng tăng trưởng kinh tế dài hạn của Việt Nam. Thay vì lặp lại con đường phát triển nhanh của Trung Quốc, kinh tế Việt Nam có thể chỉ đạt được những thành công khiêm tốn hơn nhiều, tương tự với các nước láng giềng như Indonesia và Thái Lan." - Trích báo cáo của VNR Reseach Division.

>> Morgan Stanley bình luận nhanh về kinh tế Việt Nam

Có một quan điểm được tán thành rộng khắp là bất chấp những khó khăn trong ngắn hạn, triển vọng trung hạn và dài hạn của kinh tế Việt Nam là rất sáng sủa. Việt Nam có tiềm năng trở thành một con rồng mới ở châu Á. Tuy nhiên, đang xuất hiện những ý kiến về một kịch bản trái ngược, đó là kinh tế Việt Nam tuy lạc quan trong ngắn hạn, nhưng khá bi quan trong trung hạn và dài hạn.

Kinh tế vĩ mô quý 3 năm 2008: đáy khó khăn đã được vượt qua

Bài viết được trích từ Báo cáo thường kỳ của TOP 500 doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam- VNR (VNR Quarterly Report) do các chuyên gia thuộc VNR Research Division cùng các chuyên gia, các công ty tư vấn trong và ngoài nước phối hợp thực hiện.

Bên cạnh những bài nhận định, bình luận kinh tế vĩ mô thường mang tính dự báo, thì bài viết này được xem như kết luận của giới nghiên cứu sau đã khi phân tích những số liệu và tình hình thực tiễn của nền kinh tế Việt Nam. Những kết luận rất đáng để bạn đọc nhìn nhận và suy ngẫm.

Phù hợp với kịch bản dự báo được đưa ra tại VNR Quarterly No.1, bối cảnh kinh tế vĩ mô trong quý 3 năm 2008 có nhiều dấu hiệu lạc quan. Nguy cơ khủng hoảng tiền tệ và/hoặc khủng hoảng cán cân thanh toán đã lùi xa, nhưng môi trường kinh tế tiếp tục trở nên rất khó khăn đối với khu vực doanh nghiệp.

Lạm phát đang trên đà giảm và có diễn biến tích cực. Nhiều khả mức tăng CPI so với cùng kỳ năm ngoái (CPI yoy) đã đến đỉnh trong tháng 8 (28,4%), dự kiến sẽ giảm dần đến cuối năm và đạt mức 25%-26%.

Thâm hụt thương mại đã giảm nhẹ đáng kể từ mức 3,2-3,3 tỷ USD tháng 3 và tháng 4 xuống còn khoảng 700-800 triệu USD trong tháng 7 và tháng 8. Tỷ giá đang khá ổn định và nhiều khả năng sẽ không có biến động lớn tới hết năm 2008.

Dự trữ ngoại hối dồi dào do cán cân thanh toán tiếp tục thặng dư vì những luồng vào ngoại tệ vẫn tiếp tục lớn hơn luồng ra. Nợ nước ngoài trong tầm kiểm soát (khoảng 30% GDP).

Nền kinh tế đang hạ cánh khá an toàn (soft landing) nhờ vào các chính sách thắt chặt tiền tệ và tài khóa thực hiện cương quyết và đồng bộ của Chính phủ trong quý 1 và quý 2 năm 2008. Một thành công rất đáng ghi nhận nữa của điều hành kinh tế vĩ mô là việc xì hơi hai quả bong bóng bất động sản và tài chính với những hệ quả tiêu cực không quá lớn đến nền kinh tế thực.

Hình 1: Lạm phát đã lên tới đỉnh trong tháng 8/2008

Hình 2: Thâm hụt thương mại giảm dần trong quý III năm 2008

Bên cạnh những điểm thuận lợi nêu trên, trong ngắn hạn, môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp vẫn sẽ rất khó khăn, thể hiện ở những điểm sau đây:

- Khu vực ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong quý 4 năm 2008, khi thị trường tài chính tòan cầu tiếp tục chao đảo, tỷ lệ nợ xấu có nguồn gốc bất động sản tiếp tục gia tăng và chi phí huy động vốn vẫn ở mức rất cao. Dự báo lợi nhuận của nhiều ngân hàng sẽ giảm mạnh trong quý 4.

- Lãi suất cho vay sẽ tiếp tục duy trì ở mức rất cao, xấp xỉ 20%/năm. Xét tới những khó khăn về huy động vốn và hiệu quả hoạt động, rất ít khả năng lãi suất cho vay sẽ được cắt giảm mạnh trong quý 4 năm 2008, trừ trường hợp Ngân hàng nhà nước bơm thêm một lượng tiền đáng kể hỗ trợ vốn và thanh khoản cho các ngân hàng thương mại.

- Sức mua tiếp tục bị cắt giảm. Các chính sách thắt chặt tiền tệ từ đầu năm của Ngân hàng nhà nước đã phát huy tác dụng mạnh mẽ trong việc kiềm chế lạm phát. Lượng tiền lưu thông được rút bớt và sức cầu của nền kinh tế đang giảm mạnh. Mức bán lẻ của nền kinh tế đã sụt giảm mạnh trong quý 3.

Thị trường bất động sản vẫn tiếp tục ảm đảm và ít có khả năng phục hồi trong năm 2008.

Tóm lại, các chính sách vĩ mô của Chính phủ đã đi đúng hướng và nhất quán trong 6 tháng gần đây. Kinh tế vĩ mô đang dần dần được ổn định hóa. Tuy nhiên, những chính sách phù hợp khi nền kinh tế chạm đáy rồi đi lên (hạ thấp dự trữ bắt buộc và lãi suất cơ bản) cần được ban hành rất kịp thời, không sớm không muộn, để đảm bảo lạm phát không bùng phát trở lại, đồng thời các doanh nghiệp không bị kìm nén quá mức cần thiết. Cũng cần phải chú ý hơn tới các chính sách an sinh xã hội trợ giúp người nghèo vượt suy thoái kinh tế.

Không khủng hoảng, nhưng liệu có tăng trưởng cao và bền vững?

 

Không khủng hoảng, nhưng liệu có tăng trưởng cao và bền vững?
Nguồn ảnh: kinhte24h.com


Trong báo cáo quý trước,
chúng tôi đã nhấn mạnh rằng không cần phải quá lo ngại về các bất ổn kinh tế vĩ mô của Việt Nam. Đó chỉ là những vấn đề ngắn hạn và trong tầm kiểm soát. Không có nguy cơ khủng hoảng kinh tế trong 6 tháng cuối năm.

Điều đáng lo ngại hơn là những yếu kém về cơ cấu, thể chế và thậm chí là mô hình phát triển của nền kinh tế Việt Nam đã được bộc lộ rõ hơn qua đợt bất ổn kinh tế này. Đối với một nền kinh tế mới nổi như Việt Nam, câu hỏi quan trọng nhất vẫn là câu hỏi về khả năng tăng trưởng kinh tế cao và bền vững trong tương lai.

Trong báo cáo mới đây nhất, Credit Suisse đã đưa ra nhận xét đầy bi quan rằng cần phải điều chỉnh cắt giảm triển vọng tăng trưởng kinh tế dài hạn của Việt Nam. Thay vì lặp lại con đường phát triển nhanh của Trung Quốc, kinh tế Việt Nam có thể chỉ đạt được những thành công khiêm tốn hơn nhiều, tương tự với các nước láng giềng như Inđonêsia và Thái Lan.

Đưa ra nhận định sớm hơn đôi chút, trong báo cáo “Vietnam: Country Forecast”, September 2007, p.36, tổ chức Economist Intelligence Unit (EIU) đã cho rằng tốc độ tăng trưởng của Việt Nam sẽ suy giảm mạnh kể từ 2010 trở đi.

Quả thực, tuy có nhiều điểm tương đồng, nhưng con đường phát triển của Việt Nam và Trung Quốc khác nhau ở một điểm then chốt. Trung Quốc đã phát triển kinh tế dựa trên việc phát triển năng lực sản xuất của các doanh nghiệp nội địa, đặc biệt là các doanh nghiệp hương trấn. Do vậy, hàng hóa sản xuất tại Trung Quốc và có thương hiệu của Trung Quốc đang ngày càng xuất hiện rộng khắp trên thế giới, là nền móng để Trung Quốc đã tăng trưởng cao (xấp xỉ 10%/năm) và liên tục trong thời gian dài.

Trong khi đó, khu vực sản xuất nội địa của Việt Nam kém tiến bộ. Quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam chủ yếu dựa vào các doanh nghiệp FDI và việc gia công hàng hóa cho các doanh nghiệp FDI. Sản phẩm thương hiệu Việt Nam vừa ít ỏi, vừa yếu kém. Các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam vẫn chưa hội nhập được vào mạng lưới sản xuất (value chain) của các doanh nghiệp đa quốc gia Đông Á. Vậy kinh tế Việt Nam sẽ dựa vào động lực nào để tiếp tục tăng trưởng nhanh trong thời gian sắp tới?

Một số nguyên nhân hạn chế thành công kinh tế trung hạn của VN

Ảnh nguồn: VNR

- Đầu tư sai và kém hiệu quả. Bên cạnh các khoản đầu tư kém hiệu quả của khu vực kinh tế nhà nước, chúng tôi cho rằng ngay cả đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam trong các năm gần đây cũng có chất lượng và hiệu quả thấp. Một khối lượng FDI khổng lồ đang tập trung vào các khu vực phi sản xuất và phi thương mại quốc tế (non-tradable sectors), do vậy sẽ là gánh nặng gây ra thâm hụt thương mại ngày càng lớn trong tương lai, đồng thời ít có đóng góp trong việc nâng cao năng suất và hiệu quả của nền kinh tế.

- Thiếu nguồn lực cần thiết để tăng trưởng cao và bền vững. Sự thiếu hụt và yếu kém về cơ sở hạ tầng, năng lượng, kiến thức khoa học công nghệ và nhân lực trình độ cao tiếp tục là những nút cố chai cản trở tăng trưởng trung hạn và dài hạn của Việt Nam. Ngay cả khi dư thừa vốn, các doanh nghiệp lớn của Việt Nam cũng gặp rất nhiều khó khăn trong việc đầu tư để dịch chuyển từ các ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động (labour-intensive) sang các ngành sản xuất sử dụng nhiều vốn (capital-intensive) và có giá trị gia tăng cao. Chính vì vậy, họ chọn một con đường phát triển ngắn hạn hơn nhiều, đó là đầu cơ vào bất động sản và chứng khoán.

- Sự yếu kém của thể chế kinh tế. Cùng với việc gia nhập WTO, môi trường kinh doanh tại Việt Nam đã có rất nhiều cải thiện, tuy nhiên rõ ràng còn rất việc phải làm. Theo báo cáo môi trường kinh doanh mới nhất của Ngân hàng thế giới, Việt Nam được xếp thứ 92 trong tổng số 181 quốc gia và vùng lãnh thổ về mức độ thuận lợi kinh doanh. Trong thời gian tới, hai hướng cải cách đầy khó khăn nhưng không thể né tránh là khu vực doanh nghiệp nhà nước và khu vực tài chính-ngân hàng.

Tóm lại, bức tranh tăng trưởng kinh tế về trung và dài hạn của Việt Nam đang bộc lộ một số khó khăn nghiêm trọng. Dù vậy, kinh tế Việt Nam vẫn có những tiềm năng to lớn để thành công. Vẫn rất nhiều tiềm năng để kinh tế Việt Nam trở thành một con hổ mới của Đông Á.

Vấn đề là làm thế nào để biến tiềm năng đó thành kết quả thực tế? Và trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp lớn cần có những đối phó phù hợp như thế nào về chiến lược kinh doanh?

  • VNR Reseach Division
     
     
ĐÓNG GÓP CỦA BẠN ĐỌC CHO CHUYÊN MỤC
(Hãy gửi cho chúng tôi bản đánh máy có dấu để bài viết của bạn sớm được đăng!)
 
Họ và tên: Nguyễn Thị Hiếu
Địa chỉ:
Email: minhhieeu@yahoo.com.vn

Tôi cũng đồng ý với những nhận định và đánh giá của bài viết này với những lý do sau:

Nếu xét trên các tiêu chí để đánh giá về thực lực quốc gia, bao gồm 5 yếu tố của các nguồn vật tư chiến lược: Vật chất, nhân lực, hạ tầng cơ sở, tri thức và tiền vốn hoặc cách nhìn khác như: Tài nguyên kinh tế (tốc độ tăng trưởng GDP); Nhân lực (trình độ, kỹ năng; giáo dục, đào tạo; việc làm, …); Tài nguyên thiên nhiên; Vốn (tổng kim ngạch đầu tư trong nước và ngoài nước, …); Tri thức kỹ thuật (phát minh, sáng chế; số người có điều kiện tiếp cận, sử dụng các công cụ, phương tiện của công nghệ như: máy tính, internet, …; kinh phí dành cho nghiên cứu, phát triển khoa học công nghệ, năng lượng, vật liệu mới, …); Tài chính của Chính phủ (các khoản chi tiêu của Chính phủ cho đầu tư; chi cho các dịch vụ xã hội, …); Thực lực quân sự (quân số lực lượng vũ trang; chi phí cho quốc phòng, …); Tài nguyên quốc tế (kim ngạch xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ; thu chi cho mua bán bản quyền, phát minh, sáng chế; thu nhập từ đầu tư trực tiếp ở nước ngoài, …), với những số liệu thống kê được báo cáo chính thức theo quý và hàng năm đã có theo các tiêu chí trên, cùng với sự xếp hạng thương hiệu của quốc gia, chúng ta có thể sẽ thấy ngay được Việt Nam hiện vẫn đang còn là một quốc gia chậm phát triển. Sức cạnh tranh của cả nền kinh tế cũng như của các doanh nghiệp còn rất thấp so với các nền kinh tế khác trên thế giới, thậm chí với cả các nền kinh tế khu vực.

Ngày 8/10, Diễn đàn Kinh tế Thế giới đã công bố kết quả xếp hạng khả năng cạnh tranh toàn cầu 2008. So với năm ngoái, Việt Nam tụt hai bậc từ 68 xuống 70. Xét trên cả ba cấp độ: quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm, năng lực cạnh tranh của chúng ta đều yếu kém và tụt hậu.

Trong số các nước Đông Á, Việt Nam chỉ đứng trên Philippines và Campuchia (Lào và Miến Điện chưa có tên trong danh sách xếp hạng)

Trong cuộc khảo sát ý kiến các chuyên gia về "vấn đề đang lo ngại nhất", ba yếu tố được coi là yếu kém nhất của Việt Nam gồm: lạm phát, cơ sở hạ tầng, và lao động được đào tạo.

Có 4 quốc gia đứng dưới Việt Nam trong năm 2007 nhưng đến năm 2008 đã vượt lên trên, đó là Botswana (từ hạng 76 lên 56), Braxin (từ 72 lên 64), Montenegro (từ 82 lên 65), và Rumani (từ 74 lên 68).

Thế kỷ 21 là thế kỷ của nền kinh tế tri thức, cùng với những sự bùng nổ của thông tin thế giới đang trải qua những thay đổi và biến động rất nhanh chóng, trên diện rộng trong tất cả các lĩnh vực: khoa học, kỹ thuật, công nghệ, vật liệu, kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, …

Sự biến động và thay đổi đó đã tác động, chi phối và ảnh hưởng tới cả lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, cả kiến trúc thượng tầng và hạ tầng cơ sở, cả hành pháp, lập pháp và tư pháp, …

Không những thế, trong bối cảnh toàn cầu hóa, với tốc độ thích ứng và phản hồi nhanh chóng, những biến động đó còn thay đổi luôn cả cách nhìn, cách nghĩ, cách đánh giá, thẩm định về giá trị, các thước đo, tiêu chuẩn, … thậm chí từ mức quan niệm cơ sở, nền tảng để hình thành nên những tiêu chuẩn, thước đo và giá trị mới.

Phát triển là một quá trình qua đó con người trở nên ý thức được các cơ hội và thách thức, hình thành nên các phản ứng, đưa ra các quyết định và khởi xướng ra các hoạt động có tổ chức. Con người tiếp nhận tri thức, qua đó họ nhận thức được các cơ hội và thách thức. Tri thức là nền tảng cho mỗi bước trong quá trình phát triển. Nó cần cho việc tạo ra sự nhận thức về các cơ hội và thách thức, đánh giá thích hợp các thay đổi, tạo ra các phản ứng, lập kế hoạch hiệu quả, đưa ra các sáng kiến và thực hiện các sáng kiến này.

Tốc độ và mức độ phát triển phụ thuộc vào sự sẵn có của nguyên vật liệu, nguồn lực tài chính và công nghệ, nhưng về cốt lõi, sự phát triển là một quá trình liên quan đến con người, được xác định thông qua phản ứng của con người đối với môi trường xung quanh.

Tri thức đóng góp cho sự phát triển theo nhiều cách khác nhau: như nguồn lực sản xuất, như đầu vào chính yếu cho giáo dục, nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ; như chất xúc tác cho thay đổi xã hội và phát triển kinh tế; và như nền tảng của sự văn minh và các giá trị văn hoá thúc đẩy sự hài hoà xã hội.

Nếu chúng ta không xác định, định vị và xây dựng được một hệ thống các thước đo, tiêu chuẩn, giá trị, thương hiệu, … (đó chính là một hệ thống các tiên đề, định hướng các giá trị, tiêu chuẩn, thước đo) của quốc gia mình, dân tộc mình một cách tổng thể, dài hạn và đặt chúng trong những mối quan hệ liên hoàn, nhân quả, tương quan, biện chứng với nhau và trong bối cảnh của toàn cầu hóa, trên cơ sở những phân tích, đánh giá, thẩm định một cách khách quan, công bằng, minh bạch, dám nhìn thẳng vào sự thật về những lợi thế, tiềm năng, khó khăn, thách thức, … dám chấp nhận, hy sinh những quyền lợi và lợi ích trước mắt, ngắn hạn, dám thực hiện theo đúng các qui trình, các thước đo, tiêu chuẩn, giá trị đã được lựa chọn một cách thông minh, tổng thể, toàn diện và dài hạn qua các công việc và hoạt động hàng ngày ở mọi cấp, mọi ngành, mọi tế bào của xã hội, … thì chúng ta đang lãng phí mọi tài nguyên, nguồn lực, vốn liếng, của cải và tài sản của cả dân tộc mình và không biết dùng nguyên lý đòn bẩy 80/20 để huy động, tập trung mọi nguồn lực, lấy ít để tạo ra và đạt được nhiều hơn, chất lượng hơn, hiệu quả hơn, tốt hơn, khi đó chúng ta sẽ không thể có được sự phát triển bền vững trong trung và dài hạn (vì có thể chúng ta đang theo đuổi giải pháp, chiến lược dùng nhiều để tạo ra nhiều hơn, mà cách tiếp cận đó, con đường đó là không bền vững), đồng thời việc định vị được thương hiệu và vị thế của Việt nam trên bản đồ thế giới chỉ là một giấc mơ giữa ban ngày.

Họ và tên:
Địa chỉ:
Email: viettoastmaster@yahoo.com

bai` viet rat hay, toi dong y voi y kien trong bai nay. Vietnam moi chi tap trung vao` cac thi truong can nhieu von la bat dong san va chung khoan ma` thoi, suc san xuat, trinh do lao dong con yeu kem la nhung kho khan can rat nhieu no luc de cai thien.

Địa chỉ email gửi : tuanvietnam@vietnamnet.vn
Bạn có ý kiến gì về bài báo này?
  Tắt Telex Vni
Họ và tên:   
Địa chỉ:  
E-mail:   *
Điện thoại:   
File gửi kèm:    (Max 100KB)
File gửi kèm:    (Max 100KB)
File gửi kèm:    (Max 100KB)
Tiêu đề:   
Nội dung:   *
   

 
CÁC TIN KHÁC
Obama sẽ mở đường cho giới trí thức Mỹ toả sáng? (28/11/2008)
Khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã "chạm đỉnh"? (18/11/2008)
TƯ LIỆU & SUY NGẪM
40 năm - sức sống của bản di chúc
Bãi nhiệm, bổ nhiệm: Đừng ngỡ "thiên nga" là "quạ"!
Thị trường mới của Trung Quốc: Xuất khẩu nông dân
THÔNG TIN ĐA CHIỀU
"Nói thế có chết không!"
Triển vọng bô-xít Tây Nguyên - Tìm hiểu tại chỗ
Một cách đánh giá khác về dạng văn "cảm xúc"
THẾ GIỚI TRUYỀN THÔNG
Obama sứt mẻ hình tượng "Tổng thống thay đổi" ở Trung Đông
Cái giá buộc phải nhận khi Calisto được yêu mến
Phim Hàn Quốc - Trung Quốc: Tại "anh" hay tại "ả"?
HARVARD'S
Tín nhiệm thông qua sự minh bạch
Bí quyết dùng người của các tập đoàn nổi tiếng (Phần cuối)
Bí quyết dùng người của các tập đoàn nổi tiếng (Phần 2)
TRỰC TUYẾN CÙNG TOP
GS.Kaplan: "Quốc gia là một con thuyền, DN là những tay chèo"
HLV Calisto: "Lương tâm là ông chủ duy nhất của tôi"
Trực tuyến với GS Robert Kaplan, cha đẻ mô hình Bảng điểm cân bằng
  Địa chỉ truy cập: www.tuanvietnam.net hoặc www.vietnamweek.net. Tổng Biên Tập: Nguyễn Anh Tuấn
Toà nhà VietNamNet - Số 4 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại: 04.37722729 Fax: 04.37722734, Email: tuanvietnam@vietnamnet.vn