>> Tập đoàn nhà nước và cỗ xe kinh tế Việt Nam
 |
|
Việt Nam là một mảnh đất còn chưa được khai phá |
Việt Nam là một mảnh đất còn chưa được khai phá. Việt Nam cần vốn, nhưng với thể trạng của nền kinh tế như hiện nay thì quá nhiều vốn có thể sẽ không có lợi, nhất là khi vốn không được sử dụng một cách đúng đắn.
Việt Nam cần cắt giảm mạnh đầu tư công, nhưng lại thiếu những cơ chế để phân biệt những dự án thực sự cần thiết và những dự án xuất phát từ động cơ cá nhân của một vài địa phương hay nhóm lợi ích, ngay cả khi những dự án này không hiệu quả.
Trong khi đó, thế lực và tiếng nói của các tập đoàn hiện đang rất mạnh. Khi ấy, bất kỳ một chính sách duy lý nào cũng sẽ bị những kẻ vì muốn bảo vệ quyền lợi của mình chống lại dưới danh nghĩa “bảo vệ lợi ích quốc gia”.
Ai sẽ có thể chống lại sức ép của những nhóm này? Rõ ràng là chỉ với quyết tâm chính trị cao độ thì mới có thể thay đổi chính sách đối với hoạt động của các tập đoàn nhà nước.
Khôi phục sự kiểm soát tài chính và tiền tệ
Trong một thế giới ổn định hơn, một quốc gia như Việt Nam sẽ có lãi suất cao hơn Nhật Bản, đồng thời đồng tiền của nó hàng năm sẽ mất giá một khoảng đúng bằng chênh lệch lãi suất trái phiếu chính phủ của hai nước.
Khi ấy khả năng sinh lợi lớn từ việc vay yên Nhật để mua trái phiếu bằng tiền đồng Việt Nam sẽ không xuất hiện, và do vậy dòng vốn nước ngoài sẽ không trở thành một nhân tố gây bất ổn cho nền kinh tế.
Lãi suất cao hơn (đặc biệt khi cao hơn lạm phát) sẽ thu hút vốn từ những đối tượng trong nước hiện đang nắm giữ vàng hay đô la, và nhờ đó tạo được nguồn tiết kiệm trong nước.
Nếu các ngân hàng có nghiệp vụ cho vay tốt thì những khoản tiết kiệm này sẽ được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động có ích như tạo thêm việc làm chứ không phải là mua sắm bất động sản và hàng xa xỉ (và các công ty cũng không chờ đợi khả năng vay với lãi suất thấp hơn chỉ số lạm phát – điều đồng nghĩa với việc đánh thuế người gửi tiết kiệm).
Việc chuyển tài sản từ vàng và đô la sang đồng nội tệ cũng sẽ giúp Ngân hàng Nhà nước (SBV) kiểm soát lượng cung tiền tốt hơn. Đây là cái đích mà Việt Nam cần phải hướng tới.
Câu hỏi “làm thế nào để Việt Nam đạt tới đích này, hay liệu Việt Nam có thể vươn tới đích hay không” là một câu hỏi khó nhưng rất cấp bách.
Không khôi phục niềm tin: Giá phải trả sẽ rất lớn!
 |
|
Nhiệm vụ của Chính phủ trong thời gian sắp tới là phải hành động và khôi phục niềm tin của thị trường (ảnh minh họa) |
Để kiểm soát được lạm phát, tăng trưởng tín dụng (tổng cộng chứ không phải của từng ngân hàng cụ thể) không thể tiếp tục ở mức 40-50% như trong thời gian qua.
Tuy nhiên, không dễ đạt được mục đích giảm tăng trưởng tín dụng vì một lượng lớn cung tiền tồn tại dưới dạng vàng hay đô la, không nằm trong tầm kiểm soát của SBV và thường chảy vào nền kinh tế mà không cần đăng ký. Khi ấy, “bộ phanh” của chính sách tiền tệ sẽ không đủ mạnh.
Ưu tiên cao nhất hiện nay là khôi phục lại khả năng kiểm soát chi tiêu của chính phủ, bao gồm cả tín dụng cho khu vực DNNN.
Chính phủ cần áp đặt kỷ cương thị trường cho các tập đoàn nhà nước, buộc chúng phải từ bỏ các hoạt động đầu cơ tài chính.
Các dự án đầu tư công phải được thẩm định cẩn thận và những dự án kém hiệu quả phải bị loại bỏ. Thị trường đang chờ những chính sách và hành động quả quyết của chính phủ theo hướng này.
Nếu chính phủ không thể khôi phục được khả năng kiểm soát chính sách tài khoá và hoạt động của tập đoàn thì niềm tin của thị trường đối với năng lực điều hành vĩ mô của chính phủ sẽ tiếp tục bị suy giảm.
Không khôi phục được niềm tin thì nguy cơ vốn đảo chiều sẽ có khả năng trở thành hiện thực, và khi ấy cái giá phải trả sẽ rất lớn.
Tái cấu trúc khu vực nhà nước: Bài học từ Trung Quốc
 |
|
(Ảnh minh hoạ: laodong.com.vn) |
Khu vực năng động và có tính cạnh tranh nhất trong nền kinh tế Việt Nam cũng là khu vực hội nhập nhất.
Ngược lại, phần lớn khu vực DNNN đang kháng cự lại quá trình hội nhập đầy ý nghĩa này. Tình trạng này cần phải được thay đổi. Khi tín nhiệm của chính phủ trong hoạt động điều hành vĩ mô được khôi phục, các dòng vốn và nhân lực quốc tế sẽ lại chảy vào nền kinh tế. Mục tiêu quan trọng nhất của
Việt Nam khi ký các hiệp ước thương mại quốc tế, đặc biệt với WTO, là để gia nhập hệ thống tài chính và thương mại toàn cầu một cách bình đẳng hơn so với các đối tác.
Những hiệp ước này có thể và phải được tiếp tục đẩy mạnh nhằm thu hút thêm vốn vào hệ thống ngân hàng hiện đang thiếu vốn. Vì bong bóng trên thị trường chứng khoán đã vỡ, còn bong bóng trên thị trường bất động sản đang xẹp dần, Việt Nam nên coi năm 2008 như một năm bản lề để chuẩn bị cho quá trình tự do hoá hơn nữa trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, đặc biệt là nên tạo cơ chế khuyến khích sự tham gia của các nhà đầu tư chiến lược và các ngân hàng quốc tế [1].
Sự có mặt của các nhà đầu tư và dòng vốn quốc tế sẽ giúp đảm bảo các khoản cho vay được thực hiện dựa trên những điều khoản có tính thương mại mà không chứa đựng những rủi ro thái quá. Điều này sẽ giúp chuyển hoá và chuyên nghiệp hoá hệ thống tài chính và buộc những người đi vay phải trả lãi suất tương xứng với điều kiện vay của họ.
Việc Việt Nam gia nhập WTO cũng có thể được sử dụng như một công cụ đầy uy lực để buộc khu vực nhà nước phải thay đổi. Trung Quốc đã chủ động đẩy nhanh quá trình thực hiện cam kết WTO để gây áp lực, buộc khu vực nhà nước phải cải cách [2]
Sự “lột xác” của một số tập đoàn nhà nước ở Trung Quốc để trở thành những công ty có tính cạnh tranh toàn cầu là một kinh nghiệm quan trọng cho Việt Nam.
 |
|
Cầu vượt ở thị trấn Lăng Cô, Thừa Thiên Huế |
Đầu tiên, doanh nghiệp của Trung Quốc được phép hoạt động với cơ chế tương tự như những đối thủ cạnh tranh của chúng trong khu vực tư nhân. Những doanh nghiệp thành công nhất đã từ bỏ chế độ tuyển dụng nhân sự cũ, thay vào đó là một hệ thống nhân sự mới gần gũi hơn với thông lệ trên thị trường.
Đãi ngộ dựa trên kết quả, và nhờ vậy thu hút được một số nhà quản trị tài ba từ khu vực tư nhân. Một nhân tố bổ sung nữa là với quy mô của một thị trường nội địa ở Trung Quốc thì ngay cả những công ty nhà nước cũng phải cạnh tranh với nhau.
Các cơ quan điều tiết của Trung Quốc ý thức rất rõ giá trị của việc duy trì cạnh tranh và đã thi hành những biện pháp nhằm ngăn chặn tình trạng cấu kết giữa các doanh nghiệp nhà nước như vẫn thường xảy ra ở Việt Nam.
Thứ hai, một số tập đoàn ở Trung Quốc đã chấp nhận sự tham gia của các nhà đầu tư chiến lược quốc tế, và nhờ đó đã mời được những nhà quản lý đẳng cấp quốc tế vào hội đồng giám đốc.
Trong tình trạng khó khăn về tài khoá hiện nay và cùng với sự thiếu năng lực trong khu vực nhà nước, chúng tôi tin rằng Việt Nam sẽ cần phải cho phép các nhà đầu tư nước ngoài tham gia nhiều hơn nữa vào khu vực nhà nước của mình.
Chuỗi thất bại liên tiếp trong việc tìm kiếm nhà đầu tư chiến lược trong các đợt IPO gần đây cho thấy chính phủ phải chọn một cách tiếp cận mới cho việc định giá doanh nghiệp.
Mục tiêu của việc khuyến khích sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài không chỉ là làm tăng ngân sách (nhờ tăng giá cổ phiếu), mà quan trọng hơn, để giúp tăng cường năng lực cạnh tranh và giá trị cho doanh nghiệp.
Thất bại gần đây của Vietcombank trong việc bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược là một ví dụ điển hình. Việc yêu cầu các nhà đầu tư chiến lược mua cổ phiếu với giá đấu giá bình quân (ngược lại với dự định ban đầu) được đại diện của Vietcombank giải thích rằng việc đối tác chiến lược trả giá quá thấp sẽ làm tổn hại tài sản nhà nước và lợi ích của các nhà đầu tư nhỏ. [3]
Các NHTM của Trung Quốc, như Ngân hàng Công thương (ICBC), có chiến lược hoàn toàn khác. ICBC bán 10% cổ phần cho các nhà đầu tư chiến lược với giá bằng 1/3 thậm chí ¼ giá thị trường, nhưng sau đó, với sự đóng góp của các đối tác này, giá cổ phiếu của ICBC đã tăng hơn gấp đôi trong vòng một năm, làm lợi cho cả nhà nước và các cổ đông nhỏ.
Trong khi đó, giá cổ phiếu của Vietcombank giảm từ mức 107.800 đồng cuối năm 2007 xuống còn 30.000 đồng vào thời điểm hiện nay.
Tất nhiên giá cổ phiếu của Vietcombank chịu tác động của tình hình kinh tế chung, nhưng cũng có thể lập luận rằng giá cổ phiếu Vietcombank sẽ không sụt giảm nhanh đến vậy nếu giá ban đầu của nó được xác định chính xác hơn với sự tham gia của các nhà đầu tư chiến lược.
------------------
Ghi chú: (1) Các ngân hàng ở Mỹ cũng đang theo đuổi chiến lược tương tự. Sau khi mất nhiều tỉ đô la vì những khoản vay kém khôn ngoan, các ngân hàng Mỹ đang nỗ lực thu hút vốn nước ngoài để cải thiện bảng cân đối của mình.
(2) Điều này rất khác so với cách tiếp cận của Việt Nam khi gia nhập WTO. Trong bài “Lựa chọn thành công” chúng tôi cho rằng các tập đoàn và tổng công ty đang tìm cách né tránh việc phải thực hiện các cam kết WTO.
(3) Đáng lưu ý là Vietcombank không phải là một trường hợp cá biệt. Những đợt phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng của một số DNNN lớn khác như Bảo Việt, Sabeco, và Habeco cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự.