 |
|
Chào mừng chiến thắng đám phán của đoàn Việt Nam tại hội nghị Paris |
Ngoại giao Nhà nghề và Ngoại Giao Hồ Chí Minh
Khi ta chấp nhận đàm phán với Mỹ, bạn bè và dư luận thế giới rất quan tâm đồng thời cũng lo ngại cho ngành ngoại giao non trẻ của ta phải đối đầu với ngoại giao nhà nghề sừng sỏ của Mỹ.
Thật vậy, phía Mỹ liên tiếp xuất “chủ bài”: Harriman, người từng đàm phán với Stalin, báo chí còn gán cho biệt danh “cá sấu” vì thường lẳng lặng ngồi nghe rồi bất thình lình đớp đối phương một đòn chí mạng. Kissinger người nổi tiếng khôn ngoan, đàm phán với Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình để Nixon gặp Mao Trạch Đông và bình thường hoá quan hệ với Trung quốc.
Thêm vào đó là một loạt các chuyên gia hàng đầu của Mỹ về Việt Nam: Đại sứ Cabot Lodge, Porter, Sullivan, Negroponte, v.v...
Phía ta có nhiều khó khăn về kỹ thuật và hậu cần lại xa hậu phương. Nhưng ta có lợi thế cơ bản luôn giành chủ động trong đàm phán, kiên trì lập trường chính nghĩa bảo vệ lợi ích dân tộc và thực hiện sách lược cách mạng Hồ Chí Minh: "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào”. Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh được thể hiện suốt quá trình đàm phán, đưa đến thắng lợi ký kết Hiệp định Paris và cả đến khi thống nhất đất nứơc và bình thường hoá quan hệ với Mỹ.
Trên bàn hội nghị, các nhà ngoại giao Việt Nam cũng thể hiện bản lĩnh của mình. Khi Kissinger muốn xoa dịu nội bộ và dư luận về nỗ lực của cá nhân đã tuyên bố hoà bình trong tầm tay (Peace at hand), đề nghị ta ký tắt văn bản. Theo chủ trương của ta, Đồng chí Lê Đức Thọ dứt khoát không chịu ký "non". Kissinger đã phải thốt lên: "Ông quả là một đối thủ đáng gờm."
 |
|
Đồng chí Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Xuân Thuỷ thăm và làm việc với Đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam Việt Nam |
Bộ trưởng Xuân Thuỷ với cốt cách văn hoá luôn tươi cười nhưng cũng rất kiên quyết. Khi Mỹ phải trở lại bàn đàm phán sau thất bại ném bom B52 Hà Nội, Hải Phòng, khác với những lần trước, Bộ trưởng Xuân Thuỷ chỉ đạo, không cử người mở cửa mà để Kissinger phải tự tay mở cửa bước nào. Vô tuyến truyền hình các nước đưa ngay cảnh đó lên màn hình, thể hiện thế yếu của Mỹ.
Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch gặp lại đối thủ cũ ở Hội nghị Geneva về Lào là Đại sứ William Sullivan. Hai nhà ngoại giao quần thảo mọi chi tiết về Hiệp định và các Nghi định thư. Tôi nhớ có lần Sullivan đang nói thì bị cơn ho liên tục không nói được nữa. Ông ta cầm cốc nước lạnh định uống thì ông Thạch ngăn lại, giải thích nước lạnh sẽ làm ho thêm và bảo nhân viên phục vụ lấy cho ông ta cốc nước chè nóng.
Khi Ngoại trưởng Mỹ Rogers sang ký Hiệp định chính thức, vừa gặp Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh đã nói ngay: "Sullivan nói thích ông Thạch vì ông ấy “rắn” (tough) lắm. Sau này tôi cũng chứng kiến việc Sullivan chủ động gặp ông Thạch ở New York để thúc đẩy quan hệ 2 nước. Bà Virginia Foote cũng là người của Sullivan đã tích cực kế tục sự nghiệp này.
Trong đoàn của Mỹ cũng có một nhân vật quan trọng nữa: George Aldrich cố vấn pháp lý của Tổng thống Mỹ. Ông đến và nhanh chóng đưa ra một bản so sánh lập trường của hai bên trong từng vấn đề để dễ thảo luận. Trong lúc nghỉ giải lao ông nói với tôi: "Con trai tôi đã dặn tôi trước khi đi Paris, "Dad, peace is important” - Bố ơi, phải có hoà bình".
Sau này ông lại là Trưởng đoàn Mỹ ở Hội nghị ngoại giao ở Geneva liên quan đến việc tham gia của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà Miền Nam (CPCMLTCHMN Việt Nam). Khi bỏ phiếu, phía ta thua một phiếu và CPCMLTCHMNVN không được dự hội nghị. Đoàn của Ngụy quyền Sài Gòn reo lên vui mừng. Lúc ra về ông đi phía sau tôi và nói :”I take no pleasure in it, my friend” (Tôi chẳng thích thú gì đâu, ông bạn ạ). Tôi không trả lời nhưng hiểu thực lòng của ông.
Lẽ phải chinh phục lòng người
 |
|
Tại trụ sở Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà (Choisy le Roi, 1969) |
Nước Mỹ tự cho là bất khả xâm phạm. Năm 1968, tôi đã chứng kiến nhà báo Liên Xô hỏi phi công tù binh Mỹ: "Anh nghĩ thế nào nếu nước khác cũng sang ném bom nước Mỹ như anh đã làm ở Việt Nam?" Bất ngờ, viên phi công ngang ngạnh trả lời: "Tôi chẳng cần phải suy nghĩ làm gì vì không bao giờ có chuyện đó."
Việt Nam là nước đầu tiên làm Mỹ thất bại. Uy thế quân sự giảm sút. Năm 1975, tôi sang New York tham gia hoạt động tại LHQ đã chứng kiến việc dư luận đã nhận xét: Quân nhân Mỹ ra phố đều mặc thường phục không muốn xuất hiện trong quân phục như trước. Còn Kissinger thì rất cay cú tuyên bố sau khi chế độ Sài Gòn sụp đổ phía ta sẽ trả thù “tắm máu” (blood bath), nhưng tuyệt nhiên không việc trả thù nào.
Thất bại nặng nề như vậy, nhưng chính nghĩa dân tộc và đường lối ngoại giao Hồ Chí Minh đã làm Siêu cường Mỹ “khẩu phục tâm phục”. Sau này, hai nước đã bình thường hoá quan hệ. Điều có thể an ủi là Pháp cũng đã làm như vậy đối với Việt Nam. Hơn nữa, người Mỹ còn tự hào là ngay từ trước khi Việt Nam giành được độc lập, nhiều sĩ quan Mỹ đã từng hợp tác với Hồ chí Minh trong chiến tranh chống phát-xít Nhật ở Việt Nam. Binh lính Mỹ cũng sám hối trong vụ tàn sát ở Sơn Mỹ và cảm phục trước sự hy sinh cao cả của những anh hùng như bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm.
Tôi cũng chứng kiến sự nể trọng của thành viên phái đoàn Sài Gòn tại Hội nghị Paris trong lúc tiếp xúc riêng. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh mất, anh Hà Huy Tâm và tôi được chỉ thị đến phái đoàn Mỹ và Sài gòn đề nghị hoãn phiên họp một tuần lễ. Thái độ của họ đều rất trân trọng. Báo chí quốc tế, nhất là ở Paris đưa rất nhiều tư liệu về Hồ Chí Minh và sự nghiêp của Người.
Một tờ báo đã phỏng vấn Nguyễn Cao Kỳ lúc đó đang ở Paris để chỉ đạo phái đoàn Sài Gòn và đưa tin rằng ông ta có sự nể trọng nhất định đối với Hồ Chí Minh. Ngày 31/1/2008, nhân dịp đón Tết, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết gặp gỡ Việt kiều và có nói chuyện với ông Kỳ. Khi nhiều người tham gia nói chuyện, tôi muốn kiểm chứng nên cũng hỏi ông Kỳ về việc tờ báo Paris nêu cách đây 40 năm. Ông Kỳ trả lời là không nhớ tờ báo nói gì, nhưng khẳng định từ khi còn nhỏ ở Hà Nội đã rất kính trọng Cụ Hồ.
Những nhà nghiên cứu nước ngoài đã nhận xét: Hồ Chí Minh không bao giờ xa rời mục tiêu giải phóng dân tộc, hầu như không có kẻ thù và tranh thủ được mọi lực lượng tiến bộ. Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh đã chỉ đạo và tạo sức mạnh cho hai đoàn Miền Nam và Miền Bắc tại Hội nghi Paris đi đến thắng lợi. Ngày nay tư tưởng đó vẫn đang tiếp tục chỉ đạo công cuộc Đổi Mới và đường lối đối ngoại mang lại những thắng lợi ngày càng to lớn hơn. Đó là niềm hạnh phúc và tự hào của mọi nguời Việt Nam ở trong nước hay ở nước ngoài.
Phạm Ngạc (Nhà ngoại giao, nguyên Đại sứ Việt Nam ở 5 nước Bắc Âu)