>> Kinh tế năm 2008: Không thể tiếp tục lạc quan
Nghi ngại chất lượng tăng trưởng
Trong năm 2007, kinh tế Việt Nam đã thể hiện tốt hơn lợi thế so sánh (tĩnh) vốn có của mình, thể hiện ở việc tuy chưa có đột biến nhưng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng phi dầu thô tăng 27% so với mức 25,9% của năm trước, xuất khẩu của nhiều mặt hàng nông sản và chế biến có hàm lượng lao động cao tăng mạnh. Đồng thời, lợi thế so sánh động cũng bước đầu được nhen nhóm nhờ cạnh tranh, tận dụng quy mô kinh tế và FDI, ông Võ Trí Thành, Trưởng ban Hội nhập, CIEM phân tích.
Năm 2007 cũng ghi nhận thành tích tăng trưởng cao nhất trong nhiều năm qua, đạt 8,5%. Tuy nhiên, ông Thành thẳng thắn, chúng ta khó có thể nói tăng trưởng 8,5% là con số thật ấn tượng. Một năm sau gia nhập WTO, tăng trưởng không cao hơn đáng kể so với 2 năm trước đó, lại chứa đựng quá nhiều sự bất ổn. Những con số được công bố gây nghi ngại về hiệu quả chất lượng tăng trưởng.
Con số tăng trưởng 8,5% có được là nhờ lượng vốn đầu tư tăng mạnh. Tỷ lệ đầu tư so với GDP quá cao, tới 44%. FDI thực hiện chiếm đến hơn 8 tỷ USD. Tỉ trọng đầu tư từ FDI trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội lên hơn 21,5% so với 17% năm trước.
 |
|
Tăng trưởng của Việt Nam đang phụ thuộc lớn vào dòng vốn từ bên ngoài |
Lượng vốn đầu tư của DNNN, đặc biệt của các tập đoàn tăng bất thường, tăng 17% so với 2006. Vốn đầu tư của các tập đoàn kinh tế chiếm tới 57% vốn đăng ký. Trong khi đó, đầu tư của khu vực này lại chứa đựng nhiều rủi ro và câu hỏi về chất lượng của bản thân các dự án đầu tư.
Đầu tư tư nhân tăng về số lượng nhưng tỷ trọng giảm đáng kể, từ 37% năm 2006 xuống còn trên 31% tổng đầu tư. Ông Thành đặt vấn đề, liệu đầu tư của DNNN đặc biệt trong lĩnh vực chứng khoán, ngân hàng, bất động sản... có làm thoái lui đầu tư của đầu tư tư nhân?
Hơn nữa, dù có sự bùng phát trong hoạt động của khu vực tài chính, ngân hàng và thị trường bất động sản, nhưng vẫn chỉ chiếm tỷ trọng 2% GDP. Khoản đầu tư này lại ít chuyển hóa sang nền kinh tế thực có khả năng làm tăng giá trị hàng hóa và dịch vụ. Sự bùng phát ấy chỉ là cách chuyển của các khoản tiền "ảo".
Thâm hụt thương mại tăng cao trong khi tỷ lệ tiết kiệm chững lại ở mức 31% GDP. Bình quân GDP theo đầu người không lớn trong khi tốc độ tăng tiêu dùng tăng cao, nhanh hơn rất nhiều so với tốc độ tăng GDP. Tiết kiệm nội địa chững lại trong khi tỷ lệ đầu tư so với GDP loãng ra khiến Việt Nam ngày càng dựa nhiều vào dòng vốn bên ngoài. Rủi ro cán cân thanh toán gia tăng. Theo ông Thành, năm 2007 vấn đề này chưa nguy hiểm lắm nhưng câu chuyện của năm 2008 sẽ lớn hơn nhiều.
Riêng đối với nguồn vốn FDI, điều quan ngại là vốn thực hiện thấp hơn so với năm 2006 và thấp hơn nhiều so với năm 2005 mà một trong những nguyên nhân là do FDI đăng ký muốn "đặt chỗ" tại Việt Nam.
Rủi ro trong kinh tế vĩ mô
|
Mục tiêu của NHNN là nỗ lực vừa kiểm soát lạm phát dưới mức tăng trưởng kinh tế, vừa hỗ trợ tăng trưởng đạt mức 8,5% nhưng trên thực tế, NHNN đã phải thực hiện một chính sách tiền tệ thiên hơn cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế. |
Bên cạnh bộc lộ những yếu kém, bất cập cố hữu của nền kinh tế với 3 nút cổ chai: cơ sở hạ tầng, thể chế, và nguồn nhân lực, năm 2007 cũng chứng kiến sự lộ diện rõ ràng hơn của các rủi ro trong kinh tế vĩ mô.
Nhiều chỉ số kinh tế vĩ mô đang chỉ ra những dấu hiệu lo ngại. Lạm phát tính theo CPI cao nhất trong 12 năm qua. Thâm hụt thương mại "bành trướng" mạnh.
Các tác giả đặt vấn đề, liệu việc nhập siêu có tạo ra năng lực sản xuất với hiệu quả tương xứng trong thời gian tới và cách thức tài trợ cho thâm hụt thương mại có bền vững không?
 |
|
Nhận thức thời cơ đồng thời đánh giá đúng thực trạng gai góc hiện nay chính là nền tảng suy tính để vượt qua khó khăn... |
Riêng đối với vấn đề lạm phát, báo cáo nhấn mạnh, có một thực tế là đến cuối năm 2007, Chính phủ vẫn chưa có được những lập luận và giải trình hợp lý trong lực chọn, về ngắn hạn giữa mục tiêu tăng trưởng và mục tiêu kiềm chế lạm phát, dẫn đến sự lúng túng trong điều hành các chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt trong bối cảnh các nguồn vốn đổ vào Việt Nam mạnh.
Việc nắm bắt thông tin và phối hợp giữa các cơ quan hoạch định và thực thi chính sách cũng còn nhiều hạn chế.
Chính những bất cập, lúng túng trong điều hành chính sách đã tạo nên những biến động không đáng có. Việt Nam đã chưa được nhận thức đầy đủ, đúng đắn những vấn đề kinh tế vĩ mô có tính nền tảng cần xử lý.
Đơn cử, trong mối quan hệ giữa chế độ tỉ giá, chu chuyển vốn và khả năng kiểm soát cung tiền, khi NHNN mua một khối lượng lớn ngoại tệ gần 9 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm làm cung tiền tăng mạnh, các biện pháp trung hòa hóa đã không được thực thi kịp thời.
Việc chỉ đạo "Bộ Tài chính tiếp tục triển khai kế hoạch phát hành trái phiếu Chính phủ năm 2007, 2008 để tham gia hút bớt tiền về" cũng là minh chứng cho sự thiếu rõ ràng và bài bản trong điều hành chính sách kinh tế vĩ mô.
Việt Nam cũng còn nhiều bất cập trong khung khổ pháp lý, tính chuyên nghiệp và sự phối hợp trong nội tại hệ thống giám sát tài chính.. Việc xây dựng một mô hình giám sát tài chính thích hợp và có hiệu lực vẫn còn không ít dấu hỏi.
Hệ thống giám sát tài chính "tụt hậu" so với sự bùng phát trong hoạt động tài chính ngân hàng và bất đất động sản. Vấn đề giám sát tài chính và quản trị rủi ro càng trở nên bức thiết trong bối cảnh các DNNN mở rộng kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực.
“Con số tính toán có thể chưa chính xác, nhưng đã có những dự báo trúng và sớm về nguy cơ kinh tế, nhưng rõ ràng chúng ta quá say sưa với con số tăng trưởng nên tình hình mới như vậy", ông Thành nhấn mạnh.
Đây là những nội dung đã được chuyển tới các ĐBQH ngày 8/5 nhằm cung cấp thông tin làm cơ sở để các đại biểu thảo luận về báo cáo kinh tế - xã hội của Chính phủ.
Theo đó, trên cơ sở nhận diện lại nền kinh tế Việt Nam 2007, các chuyên gia của Viện Quản lý kinh tế trung ương đưa ra 3 kịch bản phát triển của Việt Nam 2008, trong đó, các kịch bản đều vẽ ra các bức tranh kinh tế 2008 đầy u ám với tốc độ tăng trưởng chậm lại, thâm hụt thương mại gia tăng, và đặc biệt là lạm phát tiếp tục tăng phi mã.
Tiến sỹ Võ Trí Thành của CIEM, một trong những tác giả của bản báo cáo cho rằng, rất có thể kinh tế Việt Nam sẽ đi theo kịch bản bi quan, với mức tăng trưởng 6,6 -6,7% và mức lạm phát 23%.
Dù phát triển theo kịch bản nào, thì mức lạm phát của Việt Nam vẫn cao, và về trung hạn, mức lạm phát vẫn phải trên 10% năm 2009, và hơn 5% trong năm 2010.
Báo cáo nhấn mạnh, những vấn đề cần xử lý trong năm 2008 rất phức tạp và nhạy cảm. Nhận thức thời cơ đồng thời đánh giá đúng thực trạng gai góc hiện nay là nền tảng suy tính để vượt qua khó khăn trước mắt, bảo đảm tiềm năng phát triển đã và đang khơi dậy được bền vững.