Cũng cùng suy nghĩ, ông Vũ Hoàng Giang, PGĐ Công ty Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam nói: "Có những cuốn sách chúng tôi nghĩ sẽ bán tốt thì lại chậm, có những cuốn tưởng sẽ chậm thì lại tốt. Xuất bản thật sự là một ngành kinh doanh khó lường”
Tây cũng như ta
Điều đáng nói là không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới, xuất bản cũng là một ngành "chẳng biết đâu mà lần". Khó lường ở chỗ, xác định một cuốn sách sẽ bán tốt đến mức nào và có trở thành bestseller hay không là một việc mang nhiều tính chất cảm tính, trực giác nhiều hơn là lý tính.
Bộ sách nổi tiếng Harry Potter là một ví dụ tiêu biểu cho thấy không hề có một chuẩn mực lý tính vào trong việc xác định một cuốn sách sẽ thành công về mặt thương mại đến đâu.
Tác giả cuốn sách siêu bestseller này - nữ văn sĩ J.K.Rowling - đã đưa bản thảo tập đầu tiên của cuốn sách cho tới 12 nhà xuất bản khác nhau, nhưng đều bị từ chối. Chẳng ai nghĩ một cuốn sách như vậy sẽ bán được. Cuối cùng thì nhà xuất bản Bloomsbery của Anh cũng nhận in cuốn này với khoảng tiền trả trước cho tác giả vẻn vẹn 2.500 bảng Anh (năm 1997).
 |
|
"Dị bản" - cuốn sách đầu tay của một tác giả trẻ không phải "dân trong nghề" |
Không ai trong số những người từ chối bà Rowling tưởng tượng nổi, Harry Potter sau đó đã trở thành một hiện tượng toàn cầu, lọt vào danh sách những cuốn sách bán chạy nhất của mọi thời đại với số lượng bán ra kỷ lục: 400 triệu bản cho toàn bộ series với 67 ngôn ngữ khác nhau.
Tác giả của nó trở thành một trong những phụ nữ giàu nhất thế giới, với tổng tài sản hơn 1 tỷ USD, hơn cả Nữ hoàng Anh. Còn nhà xuất bản Bloomsbery cũng đã giàu nhanh chóng cho dù chính họ cũng… không biết là sách sẽ bán chạy khủng khiếp đến vậy.
Biết thì đã giàu…
Ở Việt Nam, cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm cũng gần tương tự. Chính đơn vị xuất bản cuốn này là công ty Nhã Nam cũng bất ngờ trước sức bán của nó.
Có thể kể ra một số cuốn sách có số phận “nàng Lọ Lem trở thành công chúa” như vậy trên thị trường sách: Chiếc Lexus và cây ôliu, Hiểu kinh tế qua một bài học… Chúng đều có điểm chung, là đơn vị xuất bản cứ ngỡ sẽ lỗ, sẽ hòa hoặc may lắm thì lãi một ít, đủ bù chi phí in ấn và điều hành doanh nghiệp ở mức tối thiểu. Không ngờ sản phẩm lại bán chạy.
Từng có ý kiến cho rằng các tác phẩm "văn học mạng" dễ đọc, dễ nổi tiếng và do đó dễ "hút khách", mà trường hợp Chuyện tình New York là một ví dụ. Nối bước Chuyện tình New York, nhiều cuốn "văn học mạng" khác cũng ra đời, nhưng cuốn thì bán chạy (Dị bản), cuốn thì bán chậm (99 tuần buôn chuyện). Tóm lại, chẳng hình thành nên một quy luật nào.
Tổng biên tập Nhà xuất bản Carroll & Graf, ông William Strachan, từng viết: “Trong đa số trường hợp, bestseller mang nhiều tính bất ngờ. Không ai biết trước, đoán trước được. Biết thì đã giàu nhưng chẳng ai biết…”
Kinh doanh hay cờ bạc?
Nghiên cứu thị trường là công việc phổ biến ở các ngành kinh doanh khác. Nhưng trong ngành xuất bản thì hoàn toàn không thấy có những nghiên cứu thị trường một cách bài bản, ngay cả ở những quốc gia phát triển như Mỹ hay Nhật.
Kênh duy nhất để người làm xuất bản có thể biết người đọc nghĩ gì về một cuốn sách là mạng bán sách Amazon.com. Trước khi có Amazon, chẳng ai biết người ta nghĩ gì sau khi đọc xong một cuốn sách.
 |
| Bìa của cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm lần xuất bản gần đây nhất (tháng 6/2008) |
Còn trước khi một cuốn sách ra thị trường thì không có cách nào biết độc giả sẽ đón nhận nó ra sao. Thị hiếu độc giả là một điều bí ẩn. Biên tập viên các đơn vị xuất bản buộc lòng phải dựa nhiều vào cảm tính và kinh nghiệm, nói nôm na là đoán mò, trong việc thẩm định một bản thảo.
Chẳng hạn, bằng cách đoán mò, một số biên tập viên cho rằng trên thị trường Việt Nam, những sách viết về các đề tài sau sẽ có khả năng thu hút độc giả cao hơn sách về các đề tài khác: chứng khoán, xổ số, đánh bạc, thuật dùng người (dòng sách kinh doanh), phong thủy, bói toán, thiền (dòng sách tâm linh), tự truyện, chuyện tình cảm có những yếu tố ly kỳ khác lạ (dòng văn học) v.v.
Dĩ nhiên, tất cả chỉ là suy đoán. Việc một cuốn sách bán chạy phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố chứ không chỉ đơn thuần là thị hiếu độc giả.
Một số tác động về mặt truyền thông có thể gây ra những ảnh hưởng lớn bất ngờ. Ví dụ rõ rệt nhất vẫn là Nhật ký Đặng Thùy Trâm. Cuốn sách sẽ không thể trở thành hiện tượng với nửa triệu bản được bán hết (chưa kể sách lậu) và 26 lần tái bản, nếu không có sự hưởng ứng rầm rộ của các cơ quan, đoàn thể, báo đài...
Những yếu tố tác động bên ngoài khiến cho ngay cả những biên tập viên tài năng nhất cũng khó xác định cuốn sách liệu sẽ thành bestseller hay không. Công cụ hữu hiệu họ có thể sử dụng ở đây là kinh nghiệm, trực giác và cảm tính.
Thực tế là chẳng có gì thay đổi trong ngành kinh doanh sách kể từ năm 1640, khi nó bắt đầu xuất hiện. Người ta chỉ biết mình đúng hay sai khi sách đã bán hết hoặc đã bị... trả lại hết về kho của đơn vị xuất bản.