Kỳ I: Báo chí VN: Đường đến chuyên nghiệp còn xa!
Kỳ II: Bỏ rơi hệ thống tri thức chuyên ngành
Kỳ III: Đạo lí nghề và trào lưu nhà báo salon
Xem nhẹ vấn đề lý thuyết...
Bất cứ hành động có mục đích nào của con người đều phải dựa vào hai yếu tố: kinh nghiệm và lý thuyết.
Tuy vậy, trong hoạt động báo chí hiện nay, có người lại quá nhấn mạnh vấn đề lý luận, người khác thì coi trọng hoạt động thực tiễn và hầu như phủ định hoàn toàn những vấn đề có tính lý luận. Điều này không chỉ có ở nước ta, mà nhiều nơi khác trên thế giới cũng có tình trạng tương tự.
 |
|
Có người quá nhấn mạnh vấn đề lý luận, người khác lại coi trọng hoạt động thực tiễn (Nguồn: publicagenda) |
Nguyên nhân do đâu? Trước hết, hãy liếc nhìn vào lịch sử của quá trình xuất hiện và phát triển báo chí Việt Nam. Năm 1865, tờ báo đầu tiên bằng chữ quốc ngữ ra đời. Nhưng cho đến nay, chưa có bằng chứng nào chứng minh những người làm ra tờ báo đó, từ ông Trương Vĩnh Ký đến các cộng sự của ông, đã học nghề làm báo một cách bài bản.
Từ 1865 cho đến nửa đầu thế kỷ 20, không có một cơ sở đào tạo người làm báo nào và cũng không có một cuốn sách hướng dẫn cách làm báo nào do tác giả người Việt biên soạn. Chỉ đến thời chống Pháp thì mới có lớp đào tạo người làm báo mang tên Huỳnh Thúc Kháng ở Việt Bắc nhưng cũng không có giáo trình.
Như vậy là lịch sử đào tạo người làm báo ở Việt Nam là lịch sử truyền nghề trực tiếp, không cần đến giáo trình, cũng có nghĩa là không cần đến lý luận báo chí.
Mặt khác, từ trước tới nay, chúng ta vẫn xác định, rằng báo chí là công cụ tuyên truyền chứ không phải là công cụ để trao đổi thông tin. Lại nữa, trong một thời gian khá dài, báo chí của ta sống được và hoạt động được là nhờ bao cấp.
Tình hình đó dẫn đến hiện tượng không đòi hỏi nhiều ở phóng viên phải tạo ra những thông tin độc đáo và sắc sảo. Các phóng viên hoặc không quan tâm đến nghiệp vụ, hoặc cố viết sao để được đăng hoặc phát sóng, coi như đã hoàn thành nhiệm vụ.
Lý do thứ ba là các tổng biên tập, đặc biệt là ở báo ngành và báo địa phương, thường là cán bộ chính trị được điều đến để quản lý báo chí. Họ đã quen viết báo cáo tổng kết nên họ dễ dàng đồng tình với phóng viên viết bài theo kiểu báo cáo. Thậm chí, có người còn đòi phóng viên phải viết theo mô hình: thực trạng, nguyên nhân, giải pháp.
Tình trạng làm báo dựa trên chủ nghĩa kinh nghiệm như đã nói trên đây kéo dài hơn một thế kỷ. Do đó, nếu tự so sánh ta với ta thì như trên phương tiện truyền thông vẫn nhận định: báo chí của ta đang phát triển mạnh mẽ. Nhưng nếu so sánh với báo chí thế giới, đặc biệt là các nước phát triển, rõ ràng chúng ta còn tụt hậu rất xa.
Thực trạng là như thế, và tôi cũng chỉ muốn trình bày ý kiến của riêng tôi như thế chứ không dám đề xuất một giải pháp để mong khắc phục. Vì thực tế là tôi không có khả năng tìm kiếm giải pháp. Có chăng, tôi chỉ nghĩ, rằng đến một lúc nào đó, những cơ quan có thẩm quyền sẽ tìm đến một cách thức nào đó để bồi dưỡng nghiệp vụ làm báo cho các nhà quản lý và lãnh đạo báo chí, trước hết là các tổng biên tập báo tỉnh và báo ngành.
Bất cập trong công tác nghiên cứu.
Ở đây, tôi muốn nói về sự bất cập trong nghiên cứu, dẫn đến việc các cơ sở đào tạo công bố những giáo trình mâu thuẫn nhau, đôi khi phủ định nhau, hoàn toàn mang tính chất chủ quan chứ không dựa vào những căn cứ khoa học.
 |
|
Việc nghiên cứu báo chí còn nhiều bất cập (Nguồn: cartoonstock) |
Ở ta, số người tham gia nghiên cứu vốn đã quá ít ỏi và hầu như không có tranh luận. Các nhà nghiên cứu thường trình bày ý kiến của riêng mình, nhiều khi những ý kiến đó không ăn nhập vào đâu mà chỉ có một ý nghĩa dễ nhận thấy là nói ngược với người nói trước. Điều nguy hại là những quan niệm khoa học đó lại trở thành giáo trình giảng dạy ở bậc đại học, làm cho sinh viên hoa mắt lên mà vẫn không hiểu “đầu cua tai nheo” gì cả.
Đối với nhiều khái niệm báo chí, giới nghiên cứu báo chí còn chưa thể thống nhất trong cách hiểu. Chẳng hạn, cho đến nay, có những cuốn giáo trình vẫn khẳng định: “sổ tay phóng viên” là thể loại báo chí. Thậm chí, có những bài nghiên cứu khẳng định như đinh đóng cột: “Người tốt việc tốt" là thể loại báo chí số một của nước ta.
Trong khi đó, có những thể loại như "Thư từ trên báo" được người Đức viết thành giáo trình từ thế kỷ 15, nhưng ở nước ta vẫn còn người quan niệm rằng đó chỉ là hình thức thông tin v.v..
Ngay một vấn đề tưởng như hiển nhiên, đã được khẳng định ở hầu hết các quốc gia trên thế giới là văn học và báo chí là hai ngành khoa học khác nhau. Nhưng nhiều tác giả ở nước ta vẫn kiên trì quan niệm cho rằng báo chí là một bộ phận của văn học, cho nên muốn viết báo hay phải dùng đến “chất văn” mới giải quyết được.
Các nhà nghiên cứu có những quan niệm khác nhau về học thuật là bình thường, nhưng những vấn đề quá rõ ràng theo kiểu “chân lý phẳng” lại được trình bày khác hẳn như một phát minh mới mà không thèm giải thích tại sao lại thế là điều không nên.
Cần kết hợp cả lý thuyết và thực hành.
Nếu lý luận không có khả năng ứng dụng vào thực tiễn và lý luận không được rút ra từ thực tiễn để tạo lập lý thuyết thì đó chỉ là mớ lý thuyết suông, không có giá trị gì. Còn làm báo chỉ dựa hẳn vào thực hành thì cũng chẳng khác gì người mù đi đường nhờ vào trí nhớ.
Hiện nay, lý luận của chúng ta còn thiếu hoặc chưa thật thuyết phục dẫn đến tình trạng một số phóng viên “làm liều”.
 |
|
Cần kết hợp cả lý thuyết và thực hành trong đào tạo báo chí (Nguồn: inman) |
Một ví dụ cụ thể: không ít phóng viên khi cần thực hiện một cuộc phỏng vấn, vì thấy việc tìm gặp người cần phỏng vấn khó quá, đã nghĩ ra cách là tự đặt câu hỏi, rồi tự trả lời và đem đăng báo. Đối với các chính khách thì có vẻ tử tế hơn một chút, phóng viên đặt câu hỏi rồi lấy nội dung các bài phát biểu của họ ở đâu đó ghép lại làm câu trả lời. Tiếc rằng, tình trạng làm báo kiểu này không phải là ít và cũng không chỉ ở thể loại phỏng vấn.
Điều đáng nói hơn cả là một vài giáo viên khi nghe sinh viên kể lại chuyện đó thì coi như là một thực tế khách quan, có thể chấp nhận được. Tại sao lại tồn tại thực trạng đó? Nếu đổ toàn bộ lỗi lầm cho đào tạo thì thật không công bằng, nhưng theo tôi, đào tạo phải chịu một phần trách nhiệm!
Trong đào tạo, theo tôi, trước hết cần trang bị kiến thức về lý luận cho học viên, sau đó là thực hành. Nếu học lý luận không tốt, tôi tin là người học không dễ gì phát hiện được sự kiện, vấn đề cần đưa lên báo hoặc nhất thiết phải đưa lên báo.
Ứng dụng lý thuyết đã được học vào công việc thực hành của sinh viên dưới sự hướng dẫn của giáo viên là giai đoạn đặc biệt quan trọng trong đào tạo. Lúc này, người học thể hiện bằng sản phẩm những gì đã học được. Vì vậy, giáo viên có điều kiện phát hiện ưu điểm của họ để khuyến khích và định hướng cho họ phát triển, giúp họ khắc phục những khiếm khuyết, xác định trách nhiệm xã hội và đạo đức nghề nghiệp.
Để thực hiện được yêu cầu này, giảng viên báo chí phải là một nhà nghiên cứu lý luận, đồng thời là một nhà báo có năng lực tác nghiệp. Cái khó của một nhà nghiên cứu và giảng dạy là không còn thời gian cho hoạt động thực hành báo chí. Nhưng như vậy không có nghĩa là người giảng dạy không cần phải biết cách thực hành báo chí.
Tóm lại, để kết hợp hài hoà và có hiệu quả việc ứng dụng lý thuyết và thực hành trong đào tạo người làm báo, trước hết, rất cần đến những bộ giáo trình hoàn chỉnh và có tính khoa học cao, cùng với những công trình nghiên cứu thực tiễn báo chí để cập nhật thông tin khoa học, hỗ trợ cho giáo trình. Mặt khác, cần phân bổ thời gian hợp lý cho học lý thuyết và học thực hành.
Tin liên quan:
Sinh viên báo chí: Đi, viết và bài học về nghề
Rút tít giật gân: Câu khách hay lừa độc giả?
Sinh viên báo chí được đào tạo như thế nào?
"Tay ngang" vẫn làm báo giỏi
Phiên âm trên báo: Bao giờ thống nhất?
- Trần Quang (Khoa Báo chí - Đại học Quốc gia Hà Nội
)