|
Kỳ I: Báo chí VN: Đường đến chuyên nghiệp còn xa! Kỳ II: Bỏ rơi hệ thống tri thức chuyên ngành Kỳ III: Đạo lí nghề và trào lưu nhà báo salon
Tôi đã đọc bài viết của tác giả Nguyễn Đức An. Tôi nghĩ tác giả đã có nhiều ý kiến đúng về thực trạng báo chí Việt Nam. Tôi tin là nhiều người (trong và ngoài nghề báo) cũng nhận thức rõ những điều mà tác giả Đức An đã đề cập.
Đặc biệt, trong bài viết của mình, tác giả Đức An đã đề cao việc đào tạo bài bản, trang bị kiến thức chuyên ngành cho người làm báo. Vì vậy, với tư cách một người được đào tạo bài bản, tôi xin được kể câu chuyện của mình để mọi người cùng biết tôi và các bạn tôi đã được "đào tạo bài bản" như thế nào.
Chuyện về một người thầy
Đó là người thầy đã dạy chúng tôi nhiều nhất trong suốt 4 năm đại học. Nói “nhiều nhất” là tính về thời lượng môn học: Cơ sở lí luận báo chí truyền thông – 6 đơn vị học trình (ĐVHT), Thể loại chính luận nghệ thuật – 7 ĐVHT, Báo chí truyền hình (lý thuyết) – 5 ĐVHT, Phát thanh – 7 ĐVHT, cộng lại là 25 ĐVHT trên tổng số 182 ĐVHT (gồm cả đại cương và chuyên ngành).
 |
|
Sinh viên trên giảng đường (Nguồn: interiorhcmc) |
Thầy giáo mà tôi đang kể với các bạn đây, có học vị tiến sĩ và học hàm phó giáo sư. Thầy giúp chúng tôi hiểu về nghề một cách ít khó khăn nhất bằng việc cho chúng tôi nghe đi nghe lại những chuyện “của thầy” trong suốt 4 năm.
Khi tôi học lên cao học, bài giảng của thầy “ít quen thuộc hơn” đôi chút vì thầy nói rất đơn giản rằng: học cao học là tự học, thầy chỉ là người gợi ý… Nhưng kì thực, sự “gợi ý” của thầy “kín đáo” và “xa xôi” đến mức sau mỗi buổi học dài 2 tiếng đồng hồ, chúng tôi chẳng thấy có được một ý tưởng mới mẻ nào.
Tôi không rõ thầy bảo vệ nghiên cứu sinh về chuyên ngành gì nhưng khi dạy chúng tôi về lý thuyết truyền hình, thầy không biết sử dụng máy quay phim, thậm chí đến việc nối các zắc cắm từ máy quay vào ti vi để xem hình, thầy cũng “sai” học sinh làm hộ.
Tôi và rất nhiều bạn sinh viên đều có chung những thắc mắc: Thầy có hiểu những điều thầy đang giảng cho chúng tôi? Thầy có nhìn thấy thái độ chán ngán của chúng tôi khi ngồi dưới bục giảng mà thấy thương cho chúng tôi không?
Và thắc mắc lớn hơn cả là tại sao lại có những người thầy (như thầy của tôi) lên bục giảng để dạy những điều mà hầu như chúng tôi đều biết, hoặc có thể biết bằng nhiều cách dễ dàng, đơn giản, tốn ít công sức và thời gian hơn…?
Tất nhiên, trường hợp tôi kể trên đây là trường hợp “điển hình”. Nhưng thiết nghĩ, một môi trường đào tạo chính quy và nghiêm túc thực sự lại có những giảng viên lên lớp chỉ để đọc lại những điều đã có sẵn trong sách như vậy thì có nên chăng?
Môi trường đào tạo “bài bản” có gì?
Tôi không thể quên ngày chúng tôi bước chân vào giảng đường đại học, thầy trưởng khoa báo chí thông báo: Chúng tôi đào tạo nghiên cứu lý luận báo chí chứ không đào tạo kĩ năng làm báo. Đó là cái mà các bạn phải tự học lấy trong cuộc sống. Cơ sở lý luận sẽ là điều kiện để các bạn phát huy sự sáng tạo khi “hành nghề”.
Phần lớn những giáo trình cơ bản của chúng tôi như Cơ sở lí luận báo chí truyền thông, Ngôn ngữ báo chí, Các thể loại báo chí chính luận, Báo chí chính luận nghệ thuật, Tổ chức và hoạt động tòa soạn… đều nghiên cứu về báo in.
 |
|
Giáo trình cho sinh viên báo chí cũ kỹ, nghèo nàn (Nguồn: saga) |
Những cuốn sách “chính thống” nhất đều dựa trên các tài liệu nghiên cứu của Liên Xô (cũ). Các giáo trình này đã được biên tập và ấn bản lại nhưng nội dung khác những cuốn cũ không nhiều. Ngay cả những cuốn sách mới cũng chỉ có rất ít những bài báo được đưa vào để phân tích, chứng minh…
Phần lớn sinh viên đọc rồi kêu chán, nhất là những sách dạy về thể loại báo chí. Bởi thế, nhiều người sau khi học xong 16 ĐVHT về thể loại báo chí vẫn hết sức lúng túng khi phân biệt thể loại phóng sự với ký, phản ánh với điều tra.
Chương trình học của chúng tôi có 20 ĐVHT dành cho thể loại báo chí nhưng nội dung chỉ đơn thuần nói về báo in.
Đến khi học truyền hình và phát thanh, hầu như toàn bộ những lý thuyết về thể loại đối với báo viết lại được đem ra “nhắc lại”, chỉ thêm vào sau tên gọi thể loại hai chữ “truyền hình” hoặc “phát thanh”. Còn những đặc trưng riêng biệt trong nghiệp vụ của hai chuyên ngành này hầu như không được nhắc đến.
Chúng tôi không có giáo trình chính thức khi học về truyền hình, phát thanh, báo chí trực tuyến. Chúng tôi cũng chưa từng có điều kiện để được biết, dẫu chỉ là quan sát thôi, những phương tiện kĩ thuật được sử dụng trong phát thanh có hình thù, cấu tạo thế nào.
Khi học truyền hình, chúng tôi có được một buổi thực hành quay. Nhiều sinh viên sau khi kết thúc 8 ĐVHT truyền hình thậm chí không nhớ được hết các nút điều khiển của một chiếc máy quay phim.
Khi học báo chí trực tuyến, sinh viên chúng tôi bảo nhau: thà đi thuê máy bên ngoài cho xong. Bởi máy tính trong trường vừa phải… “tranh nhau” (trường không đủ máy) vừa tốn thời gian (mạng rất chậm).
Phần lớn các giờ học rất… “buồn ngủ” vì nội dung trong bài học được các giảng viên “giảng” lại y nguyên như trong sách hoặc những điều được giảng đã quá “quen tai” chúng tôi. (Khi viết dòng này, tôi xin chân thành cúi đầu xin lỗi những người thầy có chuyên môn sư phạm thực sự và dạy cho chúng tôi những cái thực sự đáng được gọi là “phương pháp học”, “phương pháp thực hành”. Nhưng những người thầy như thế thật ít ỏi biết bao).
Với những giờ học như vậy, chúng tôi rất muốn nghỉ học (để dành thời gian cho những việc có ích hơn). Có người bạn tôi nói: “Ở nhà ngủ còn ấm vào thân, đi học chẳng thấy… “ấm” được chỗ nào.” Nhưng chúng tôi lại không dám nghỉ học vì chúng tôi cần “tấm bằng đại học”.
 |
|
Máy tính cho sinh viên thực hành thường thiếu và quá cũ (Nguồn: dhthanglong) | Trong 4 năm ở trường đại học, không ai dạy chúng tôi viết một bài báo như thế nào, viết lead (lời dẫn) như thế nào…? Những cái mà chúng tôi muốn học nhất là kỹ năng viết báo, kỹ năng làm báo thì chúng tôi không được học.
Chúng tôi nhận được gợi ý từ nhiều giảng viên: Các bạn phải tự học cách làm báo, hãy đọc thật nhiều và tự viết thật nhiều, hãy bắt chước những phong cách, những bài báo mà bạn thích. Và câu trả lời chung nhất bao giờ cũng vậy: Học đại học là tự học.
Trước lời dạy của các thầy, sinh viên chúng tôi chỉ biết ngậm ngùi, tự an ủi nhau bằng những câu nói đùa: Làm báo “dễ” quá nên không cần được dạy ở trường, nhà trường chỉ dạy nghiên cứu lí luận báo chí thôi. Hay phải chăng nhà báo thì thừa rồi còn người nghiên cứu lí luận báo chí thì vẫn thiếu nên chúng ta vẫn phải học?
Cử nhân báo chí: Loay hoay tìm đường vào nghề
Tôi và các bạn - những cử nhân báo chí - với lượng kiến thức chuyên ngành cũ kỹ, èo uột và ít ỏi tự lăn vào cuộc đời để lần mò lấy con đường vào nghề.
Tôi nhớ lần đầu tiên đi phỏng vấn về một vụ kiện đất đai ở UBND phường, tôi đã đứng trong nhà vệ sinh mất 5 phút để… “run”.
Tôi nhớ rất rõ rằng: Không có giáo trình nào và cũng chưa thầy giáo nào nhắc nhở chúng tôi về cách ăn mặc, chuẩn bị về tâm lý hay cách thức để tiếp xúc với các nhà lãnh đạo, cách thức làm việc với các cơ quan chính quyền thế nào? Phải có tư thế, tác phong ra sao khi đứng trước một cuộc phỏng vấn với đông người và đầy tính “hành chính” như thế này?
Trong 5 phút ấy, tôi đã hiểu được giá trị của hai chữ “tự học” quan trọng như thế nào.
Giống như tôi, không ít sinh viên báo chí cảm thấy khủng hoảng nặng nề trong những năm tháng đại học và sau khi ra trường. Chúng tôi có thể trở thành những người làm báo không? Tòa soạn nào sẽ đón nhận chúng tôi? Chúng tôi có thể học được những kĩ năng nghề nghiệp từ ai, ở đâu, như thế nào, bằng cách nào?
Có một thực tế mà chúng tôi nhận thấy: những sinh viên sớm trưởng thành nhất trong nghề báo là những sinh viên báo chí hay nghỉ học nhất để lao đi viết bài (!)
Thật đúng khi nói nghề báo là nghề tự học. Nhưng với những kỹ năng cơ bản nhất và cụ thể nhất về nghề nghiệp, chẳng lẽ chúng tôi cũng không được học ở trong giảng đường đại học?
Thành cử nhân báo chí rồi, chúng tôi còn chưa “sõi” các ngôn ngữ nghề nghiệp, chưa viết thạo được những bài viết theo các thể loại báo chí, và rất non kém trong các thao tác nghiệp vụ để tìm kiếm và khai thác thông tin…
Chúng tôi được đào tạo “bài bản” trong 4 năm để rồi lại tiếp tục lần mò với những ngôn ngữ vỡ lòng của nghề làm báo.
Tin liên quan:
Sinh viên báo chí: Đi, viết và bài học về nghề Rút tít giật gân: Câu khách hay lừa độc giả?
K. Q. Đ
|