Bài viết của tiến sĩ Nguyễn Đức An – nguyên là nhà báo tại TPHCM, hiện là giảng viên báo chí tại Đại học Stirling, Anh quốc. Dù có thế những nhận xét, ý kiến trong bài viết là cực đoan nhưng thể hiện tâm huyết của tác giả. Tuần Việt Nam xin giới thiệu để độc giả cùng trao đổi.
Thiếu đào tạo bài bản…
Năm 2005, 75% trong số hơn 13000 nhà báo được cấp thẻ ở ta chưa qua một lớp báo chí nào.
Năm ngoái, trong khuôn khổ một dự án khảo sát giáo dục báo chí ở châu Á của UNESCO, hầu hết những tòa soạn Việt Nam mà tôi đến đều không có một quy trình đào tạo bài bản, chủ yếu vẫn là kinh nghiệm truyền tay, cho xâm nhập thực tế để vừa khai thác, vừa bồi dưỡng. Công tác nghiên cứu - phát triển và đào tạo được xem là thứ yếu, ít ai mặn mà.
Bốn khoa báo chí tại các trường đại học thì đang trong một cuộc khủng hoảng hình ảnh vì sản xuất ra quá nhiều cử nhân báo chí và quá ít nhà báo (như nhà báo Đinh Phong từng nói). Các lớp học ở Hội Nhà báo hiếm hoi. Một số dự án nước ngoài như SIDA có đem lại hiệu quả nhưng cũng chỉ như muối bỏ biển.
 |
|
Đa số nhà báo không được đào tạo bài bản |
Vậy 75% đó học tiêu chí, luật pháp nghề và những vấn đề khác ở đâu? Bao nhiêu người viết bài, làm phim, thâu chương trình với những quan tâm này? Bao nhiêu người phạm luật báo chí mà không hay biết? Bao nhiêu người vô tình (hay cố ý) gây ra ngộ nhận trong độc giả? Bao nhiêu người tự hỏi những cái mình đang viết ra có phải là cái người đọc cần không?
Đặt ra những câu hỏi trên để bàn về vấn đề chuyên nghiệp hóa báo chí. Chuyên nghiệp theo nghĩa xã hội học không đơn giản chỉ là làm việc và kiếm sống từ nghề. Nếu hiểu như thế thì ai cũng chuyên nghiệp cả - nhà báo chuyên nghiệp, bác sĩ chuyên nghiệp, tài xế chuyên nghiệp, tiểu thương chuyên nghiệp.
Nhưng trong khoa học xã hội, không phải nghề nào cũng được xem là “chuyên nghiệp” (profession). Danh tính “sang trọng” này chỉ dành cho một nhóm nghề mà tác động xã hội trực tiếp quá rộng lớn và vì thế phải tuân thủ một hệ thống tiêu chuẩn chuyên ngành khắt khe về cả nền tảng lý luận, nghiệp vụ lẫn đạo lý, luật pháp.
Một nghề được coi là chuyên nghiệp thường được “định giá” theo năm tiêu chí chủ yếu. Ba điểm căn cơ nhất trong đó là tính công vụ, một hệ thống tri thức chuyên biệt và một hệ thống lý luận đạo đức sẽ được bàn dưới đây trong mối liên hệ với nghề báo VN.
Chưa định hình tính công vụ
Công vụ hàm chỉ cả đối tượng lẫn tinh thần phục vụ. Một bác sĩ, luật sư hay nhà giáo phục vụ công chúng và lấy “cái tốt nhất cho số đông nhất” làm tinh thần công việc.
Dù là tuyên truyền chính sách và luật pháp, giám sát xã hội, hay tổ chức diễn đàn, nhà báo trực tiếp phục vụ công chúng và đặt lợi ích công chúng lên trên. Bao nhiêu nhà báo ngã xuống trên chiến trường cũng vì tinh thần công vụ đó.
Nhưng ở ta, tính công vụ hình như vẫn chưa được xem trọng như một nguyên tắc nghề nghiệp tối cao, rõ nét và cụ thể. Một biểu hiện dễ thấy là quan niệm cho rằng PR (giao tế cộng đồng) là một dạng báo chí, hay ít ra là một “người anh em”. Không ít nhà báo lấy việc có nhiều quan hệ với giới PR như thành đạt nghề nghiệp.
 |
|
Đa số các báo không khảo sát thị hiếu công chúng (Nguồn: nghebao) |
Làm thế nào một ngành công nghiệp chuyên đi “làm đẹp” cho một vài cá nhân hay tổ chức tư lại dễ dàng được đồng hóa với một chuyên nghiệp vì lý tưởng quốc gia và lợi ích công chúng? Hiểu như thế là hạ thấp báo chí và có thể mang lại nhiều hệ lụy xã hội nguy hiểm. Trên thực tế, trong báo chí chuyên nghiệp, PR được xem là đối tượng để báo chí giám sát chặt chẽ, vì nghề này hay đi “quá đà”.
Quan trọng hơn, để chuyên nghiệp hóa, báo chí đầu tiên phải hiểu công chúng phục vụ là ai, cần gì và đang chờ đợi gì, đồng thời phải chịu sự giám sát từ công chúng trong mọi chuẩn mực, hành vi nghiệp vụ.
Nhưng, ngay cả việc nghiên cứu công chúng chừng như vẫn còn là một “món hàng xa xỉ” ở ta. Ta cung cấp thông tin cho công chúng trên giả định rằng cái ta quan tâm là cái độc giả cần. Xin nghĩ lại. Nghiên cứu về vấn đề này trên thế giới cho thấy cái công chúng cần và cái nhà báo muốn lắm khi "chõi" nhau một trời, một vực!
Cũng vậy, hiện ta không có nhiều chứng cứ khoa học để biết công chúng Việt Nam đang tin cậy vào báo chí đến mức nào so với sự tin cậy dành cho những nghề khác như bác sĩ, nhà giáo, kỹ sư? Chúng ta được nhìn nhận khách quan, công bằng, trung thực… đến mức nào? Muốn trả lời câu hỏi đó cần phải có khảo sát khoa học định kỳ, chứ không phải từ vài ba lá thư từ độc giả, khán giả hay thính giả.
Có người hỏi: “Thế thì sao báo chúng tôi vẫn bán chạy và tăng lượng phát hành đều đều?” Vì dân số tăng, vì dân trí lên, vì con người sẽ chọn những cái tốt nhất trong điều kiện có thể, nhưng cái tốt nhất đó không hẳn đạt mức mong muốn! Báo anh đang bán 100.000 bản nhưng có thể đã được 200.000 nếu anh chịu đầu tư nhiều cho nghiên cứu độc giả.
(Còn nữa)
Nguyễn Đức An