Việt Nam vươn mình thành con hổ châu Á

"Với mức tăng trưởng kinh tế cao trong khu vực, Việt Nam nổi bật trong nhóm kinh tế N -11 như một con hổ châu Á kế tiếp đang dần lớn mạnh"

Kì 1: Bước nhảy vọt của nền kinh tế Việt:

Việt Nam vươn mình thành con hổ châu Á


Theo Goldman Sachs, trong vòng 5 năm trở lại đây, Việt Nam là nước duy nhất trong nhóm N-11[1] có khả năng duy trì mức tăng trưởng sánh ngang tầm với hai người khổng lồ Trung Quốc và Ấn Độ.
 
Ba yếu tố chính làm thay đổi bộ mặt của nền kinh tế Việt Nam là (1) Sự chuyển mình từ kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường, (2) Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng và (3) Chính sách mở cửa nền kinh tế với khu vực cũng như toàn cầu.

Sự ra đời của nền kinh tế thị trường: Những thay đổi lớn về cấu trúc

Sự chuyển mình từ nền kinh tế tập trung sang định hướng mới - nền kinh tế thị trường là bước đi đầu tiên làm nên thành công của Việt Nam ngày nay.

Việt Nam bắt đầu với việc chuyển dịch trọng tâm sang các lĩnh vực ngoài quốc doanh. Ít nhất là trong sản xuất và đầu tư của ngành công nghiệp và dịch vụ, Nhà nước đã sáng suốt để cho các doanh nghiệp tư nhân và nước ngoài chung sức.

Đây là cơ hội tốt để thu hút và tận dụng nguồn năng lực và trí lực dồi dào của đất nước, khuyến khích mọi loại hình kinh doanh phát triển với động lực lớn hơn trước rất nhiều.

Tính đến năm 2006, các đơn vị ngoài quốc doanh và các công ty nước ngoài đã chiếm tới hơn một nửa lượng đầu tư tại Việt Nam.

Khu vực ngoài quốc doanh và các công ty nước ngoài ngày nay chiếm hơn một nửa lượng đầu tư. Theo thứ tự: Đầu tư nước ngoài - Nội địa ngoài quốc doanh - Quốc doanh (Nguồn: CEIC, TT Nghiên cứu Kinh tế Goldman Sachs)

Công nghiệp hóa và đô thị hóa: Trọng tâm mới

Nền kinh tế thị trường thúc đẩy Việt Nam phát triển các ngành công nghiệp một cách nhanh chóng. Nguồn tài nguyên dồi dào cùng lực lượng lao động vốn dư thừa trong nông nghiệp được tận dụng để tăng tốc cho sự nghiệp công nghiệp hóa, với sự trợ giúp của nguồn vốn nước ngoài và chuyển giao công nghệ.

Việc phân bố lại lực lượng lao động từ khu vực nông nghiệp với năng suất sang khu vực sản xuất dịch vụ đã có tác động đáng kể tới tổng năng suất tăng trưởng.

Mô hình kinh tế dựa theo học thuyết Lewis này
[2] đã được áp dụng thành công tại các nước khác, và cũng một lần nữa đóng góp cho sự tăng trưởng của sản lượng công nghiệp, và nhanh chóng vượt cả lĩnh vực nông nghiệp. Nhờ vậy mà Việt Nam đã không những bắt kịp mà còn vượt trội một số nước bạn trong khối ASEAN.


Biểu đồ tăng trưởng GDP theo đầu người của một số nước châu Á trong giai đoạn phát triển nhanh nhất. Theo đó, mức tăng trưởng của Việt Nam vượt trội một số nước bạn trong khu vực ASEAN mức tăng trưởng  (Nguồn: WDI, Ngân hàng Thế giới, TT nghiên cứu Kinh tế Goldman Sachs.)

Chính sách mở cửa: Dòng chảy của Vốn đầu tư trực tiếp và Công nghệ

Bước nhảy vọt trong độ mở thương mại của Việt Nam trong vòng 20 năm gần đây
Độ mở trong thương mại được tính bằng Tổng sản lượng xuất nhập khẩu chia cho GDP trong một năm nhất định (Nguồn: IFS, IMF)

Trong cuộc hành trình 20 năm trở lại đây, Việt Nam đã có bước tiến nhảy vọt trong việc mở cửa giao lưu với các nền kinh tế nước bạn. Sự ra đời của những chính sách thân thiện trong thương mại cũng như chính sách đầu tư trực tiếp từ nước ngoài chính là yếu tố quan trọng nhất đem lại thành công trong ngành xuất nhập khẩu.

Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu lớn về quần áo, giày dép, đồ gỗ và sắp tới là chip điện tử. Tổng xuất khẩu và nhập khẩu bằng 160% GDP đã biến nền kinh tế Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế có độ mở lớn nhất thế giới
[3].

Đối với các nước trong khu vực, điều kiện thuận lợi về địa lí và vận tải cũng như những tương đồng về cấu trúc kinh tế đã tạo ra sân chơi lí tưởng để Việt Nam trở thành đối tác với nhiều nước bạn trong khu vực châu Á.

Từ việc mở rộng thị trường cho hàng hóa và dịch vụ đến cơ hội giao lưu và học hỏi công nghệ, tri thức, Việt Nam đã và đang tăng dần vị thế của mình nhờ vào quá trình khu vực hóa. Sự ổn định và phát triển về kinh tế nhờ vào liên kết khu vực, chẳng hạn như khối ASEAN, là tiền đề để Việt Nam tiếp tục tận dụng thế mạnh của mình.

Việt Nam - Vẻ đẹp tiềm ẩn

Vì thế, sự phát triển chuyên sâu và phức tạp hơn nữa của cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, cùngsự ra đời của đội ngũ lao động với chuyên môn cao sẽ là lợi thế thúc đẩy Việt Nam tiến xa hơn nữa trong mạng lưới sản xuất của khu vực châu Á.

Quan trọng hơn, chính sách mở cửa với nền kinh tế thế giới đã khiến Việt Nam trở thành điểm đến lí tưởng của các nhà đầu tư nước ngoài.

Điểm sáng của quá trình hội nhập hóa là việc gia nhập WTO năm 2007. Đây là một bước tiến quan trọng hứa hẹn nhiều thành tựu nhờ vào sự tiếp cận dễ dàng với thị trường quốc tế cũng như cơ hội học hỏi những tinh hoa của nước bạn để cải tiến hơn nữa hệ thống ban ngành của nước ta.

Cho dù việc tự do hóa thương mại với các thị trường quốc tế có thể gây lo ngại đối với các tổ chức kinh doanh nội địa, đây chỉ là khó khăn nhất thời.

Thực ra, về mặt lâu dài, nền kinh tế mở cửa và môi trường cạnh tranh gắt gao hơn sẽ là động lực khách quan để các công ty nội địa tự hoàn thiện mình và vươn tới những đỉnh cao mới. Một khi đã đạt được những tiêu chuẩn quốc tế, khả năng cạnh tranh với các tổ chức kinh doanh thế giới là hoàn toàn trong tầm với

Việc mở cửa nền kinh tế còn đem lại một nguồn lợi mới cho Việt Nam: du lịch. Phong cảnh tự nhiên quyến rũ, sinh thái đa dạng cùng với nền văn hóa giàu bản sắc đã cuốn hút rất nhiều khách du lịch đến Việt Nam. Năm 2007, Việt Nam đã đón nhận 2,6 triệu khách du lịch quốc tế, tăng 26% so với số liệu năm trước.

Bùng nổ du lịch cũng mở ra thị trường đầu tư và kinh doanh mới cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Xu hướng này sẽ còn tạo ra nhiều công ăn việc làm hơn nữa cho thị trường nhân lực dồi dào của nước ta, đồng thời thu hút các đề án đầu tư trực tiếp, và khuyến khích tiêu dùng trong nước.

  • Catherine Trần (Tổng hợp từ các báo cáo của Goldman Sachs)

Kỳ tiếp theo: Còn vô vàn khó khăn phía trước


[1] N-11 (Next 11 economies) bao gồm các nền kinh tế Bangladesh, Ai Cập, Indonesia, Iran, Hàn Quốc, Mexico, Nigeria, Pakistan, Philippines, Thổ Nhĩ Kì và Việt Nam.

(Theo O’Neill, Wilson, Purushothaman và Stupnytska, 2005)

[2] Học thuyết Lewis là lý thuyết của sự phát triển trong đó lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp truyền thống được chuyển tới khu vực công nghiệp hiện đại, trong đó quá trình tăng trưởng sẽ thu hút số lao động dư thừa, đẩy mạnh sự công nghiệp hóa và khuyến khích phát triển bền vững.

[3] Nguồn: The Economist

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu