Phải tường minh để gỡ rối cho quy hoạch đô thị

"Về nguyên tắc, chỉ có một cách duy nhất là minh bạch hóa quá trình ra quyết định, để mỗi dự án tự giải trình cho người chủ của đô thị là nhân dân thông qua cơ chế đại diện là hội đồng thành phố và công luận. "

Tuần Việt Nam xin giới thiệu bài viết của TS. Nguyễn Ngọc Hiếu, Chuyên gia nghiên cứu quản lí đô thị, Học viện Hành chính Quốc gia.

>> Minh bạch những vấn đề đụng chạm quốc kế dân sinh
>> Không minh bạch vì giằng co lợi ích?
>> Ai tắc trách, ai phạm quy?
>> Quy hoạch đô thị: Lấy ý kiến dân còn nặng hình thức?

6 tiêu chí để dân hưởng ứng

Trên thực tế, quá trình ra quyết định với những dự án lớn luôn thu hút sự quan tâm của công chúng, nhưng công chúng lại ít khi biết quy trình ra quyết định về "số phận" của những công viên họ đang sử dụng diễn ra như thế nào.

Hiện nay quá trình làm quy hoạch ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường, dù có hay không có tính ràng buộc, đều ít nhiều lấy sự đồng thuận hay sự tham gia của cộng đồng làm căn bản.

Quy hoạch ở Việt Nam sau Luật Xây dựng năm 2004 và Nghị định 08-2005 của Chính phủ cũng đã quy định khi lập quy hoạch chi tiết phải có sự tham gia của cộng đồng.

Tuy nhiên, quy định này ở luật Xây dựng rất chung chung, kể cả ở văn bản dưới luật là Nghị định cũng chỉ yêu cầu UBND cấp huyện tổ chức lấy ý kiến về ‘nhiệm vụ quy hoạch chi tiết’ thông qua ‘đại diện tổ dân phố’ và ‘ủy ban nhân dân cấp xã’ (khoản 2, điều 22, Nghị định 08/2005/NĐ/CP).

Trong khi đó, luật quy hoạch của các quốc gia khác ví dụ như Anh, Thụy điển, Hoa Kỳ rất coi trọng quá trình tham gia của cộng đồng và quy định chi tiết, chặt chẽ quá trình lấy ý kiến bao gồm cả thời hạn, nội dung, và giám sát kết quả lấy ý kiến cộng đồng.
 

Một mô hình quy hoạch cải tạo công viên với sự tham gia cộng đồng một cách thực chất tại hạt hạt Fairfax, tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ.

Thông thường, những mô hình như trên thường có sáu tiêu chí để được coi là có sự tham gia của cộng đồng:

  • Cộng đồng và cá nhân bị điều chỉnh bởi quy hoạch được tham gia trực tiếp, không cần phải thông qua đại diện mới được có ý kiến (khác với quy định ở Việt Nam hiện nay);
  • Lý do cần cải tạo được xây dựng trên cơ sở tham khảo ý kiến từ cộng đồng (điều này ta không quy định rõ mà gộp vào nhiệm vụ quy hoạch chi tiết),
  • Ý đồ mục tiêu cải tạo phải được lấy ý kiến của cộng đồng (điều này ta không quy định rõ mà gộp vào nhiệm vụ quy hoạch chi tiết);
  • Các phương án so sánh cải tạo phải được lấy ý kiến trước khi hội đồng xét duyệt lựa chọn (Việt Nam không quy định);
  • Sau khi dự thảo phương án được chọn ra, cộng đồng được quyền có các ý kiến phản hồi để đóng góp và nó phải được phản ánh khi trình duyệt cuối cùng (Việt Nam không quy định).
  • Các quy trình trên có thời hạn và kế hoạch cụ thể, cách thức lấy ý kiến cụ thể đủ để cộng đồng cho ý kiến (Việt Nam không quy định).

Có thể nói các nước phát triển lựa chọn cách thức để thể chế hóa phương án quy hoạch của họ dựa vào nguyên tắc đồng thuận và minh bạch. Mỗi quốc gia và hệ thống quy hoạch có cách lựa chọn khác nhau để quy hoạch của mình có tính pháp lý.

Trước kia, hệ thống quy hoạch của Việt Nam chỉ cần Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thông qua, phê duyệt là có giá trị pháp lý (thực ra là phải thông qua ở cả tỉnh ủy hoặc thành ủy), còn hiện nay là có thêm sự tham gia của cộng đồng.

So sánh trên cho thấy, để quy hoạch ở Việt Nam có sự tham gia của cộng đồng như ở các quốc gia phát triển, còn là một quá trình lâu dài.

Thực tiễn yêu cầu phải tường minh

Chỉ có một cách duy nhất là minh bạch hóa quá trình ra quyết định.
Ảnh minh họa: ttherapy.com


Trong giai đoạn trước, các dự án phát triển nằm trong chương trình kế hoạch sẽ được thông qua nhanh chóng. Vấn đề chậm trễ thường nằm ở các giải pháp kỹ thuật và thu xếp tài chính để đầu tư. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, dự án thông qua được hay không lại phải xét tới góc độ nó sẽ đem lợi cho ai, có cho đa số không hay chỉ cho một nhóm, và cũng có thể một nhóm lợi ích nhất định chịu thiệt hại. Về bản chất, đây là bài toán lợi ích nhóm.

Thông thường, cơ chế dân chủ đòi hỏi sự cân nhắc lợi hại được giải quyết công khai tại nghị trường. Mỗi đề xuất phát triển hay hạn chế phát triển được mổ xẻ và phản biện công khai tại hội đồng thành phố, với mỗi đại biểu dân cử lên tiếng bảo vệ cho các nhóm lợi ích họ đại diện, ví dụ các cộng đồng, các ngành, giới nhất định.

Trên lý thuyết, dự án thông qua có nghĩa là người đề xuất phải thuyết phục được đa số về lợi ích cho nhóm của mình được chia sẻ chung với xã hội, và chứng minh rằng nó tốt hơn các phương án khác trong thời điểm đó.

Chỉ có một cách duy nhất là minh bạch quá trình ra quyết định, để mỗi dự án tự giải trình cho người chủ của đô thị là nhân dân thông qua cơ chế đại diện là hội đồng thành phố và công luận.

Trên nguyên tắc này, các nguyên tắc thương lượng để đền bù cho dự án phát triển hay không cho phát triển được công khai. Quá trình thương lượng có thể được giữ kín, song kết quả thương lượng phải được công bố chi tiết để công luận giám sát.

Khi một khách hàng vào quán cắt tóc, người thợ trước khi cắt cần phải hỏi xem người được cắt muốn bộ tóc của mình như thế nào. Nếu yêu cầu rõ ràng là không hợp lý, người cắt tóc sẽ hướng dẫn và nhưng cũng sẽ đưa ra một số mẫu để người chủ của mái tóc lựa chọn. Khi đã chọn xong kiểu, người cắt tóc cũng cần trao đổi sẽ làm thế nào để có được kiểu như ý muốn. Trong quá trình làm, người chủ cũng cần theo dõi và sửa đổi những khiếm khuyết cho đến khi hòan thiện.

Chính quyền đô thị được tổ chức để giải quyết những vấn đề ở cấp độ toàn đô thị, liên khu vực, có liên quan mật thiết đến đông đảo cư dân, có tính thiết yếu cho sự tồn tại và phát triển ở đô thị.

Người dân luôn mong muốn chính quyền của mình phục vụ nhân dân như người thợ cắt tóc với khách hàng, với nhân dân là người chủ đích thực của tác phẩm của công tác quản lý đô thị.

  • TS. Nguyễn Ngọc Hiếu

(Trích bài "Quy trình quy hoạch đô thị và quá trình ra quyết định kiểm soát phát triển nhìn từ dự án cải tạo công viên Thống Nhất", đã đăng trên tạp chí Người Xây dựng, số tháng 9 năm 2007)

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu