Nỗi ám ảnh Đảo Chìm

Tuần Việt Nam xin trích đăng 2 phần truyện trong tập "Đảo Chìm" - như một sự tri ân với những người lính đảo đang vững tin nơi đảo xa vạn dặm, và cũng xin gửi lời cảm tạ đối với nhà thơ, nhà văn, "người lính Trường Sa" - Trần Đăng Khoa.

>> Ra với Trường Sa

Bìa tập truyện Đảo Chìm của Trần Đăng Khoa
"Đảo Chìm" là những câu chuyện nho nhỏ được ghi chép lại bởi nỗi ám ảnh mấy chục năm của Trần Đăng Khoa về một hòn đảo kỳ lạ, nằm trong dải Trường Sa. Ông đã có hàng chục bài thơ về hòn đảo này, từng viết 1 cuốn tiếu thuyết dài hơn 300 trang năm 1978, viết xong rồi lại bỏ đi.

"Nhưng mà khốn khổ. Cái hòn đảo quái quỷ ấy vẫn không chịu buông tha tôi" - ông kể. "Tôi lại viết lại. Lần này tôi co cái chuyện chỉ còn chừng 80 trang, tách thành 15 truyện".

Truyện là những ghi chép rất thực của nhà văn về một miền đất lạ phương xa khắc nghiệt. Thưởng xong cái lạ, người ta vẫn còn ngồi lại với một tâm trạng đau đáu - một phần nước non mình ở đấy, những người đồng đội mình ở đấy.

"Chuyện nhặt ở Đảo Chìm" (theo cách gọi của Trần Đăng Khoa) chẳng có gì đao to búa lớn. "Những chuyện ngỡ như vụn vặt, vô bổ, tầm phào, nhưng thực ra đều có chủ đích của tác giả, và bằng cảm xúc thực sự của một người lính, một người có tài văn chương đã biến "chuyện tầm phào" ấy thành những trang viết sinh động, hấp dẫn, không dứt ra được". - Nhà văn Phạm Ngọc Tiến.

Tuần Việt Nam xin trích đăng 2 phần truyện trong tập "Đảo Chìm"  - như một sự tri ân với những người lính đảo đang vững tin nơi đảo xa vạn dặm, và cũng xin gửi lời cảm tạ đối với nhà thơ, nhà văn, "người lính Trường Sa" - Trần Đăng Khoa.

Truyện thứ nhất: HÒN ĐẢO KÌ LẠ

Trồng rau xanh trên đảo chìm
(Ảnh nguồn: vovnews.vn)
Cậu lính trẻ vỗ vai tôi, nói nhỏ:

- Tới đảo rồi. Anh chuẩn bị vào đảo nhé! Tôi cuộn vội võng bạt. Rồi thì ớ ra, cứ ngỡ mình nghe nhầm. Nhưng con tàu đã quá quen sóng gió, luồng lạch biển cả này thì không thể nhầm được. Nó đang òng ọc buông neo.

Sau lưng tôi, trên mặt boong ướt nhoẹt, ngổn ngang những xích sắt, thừng chão, mấy cậu lính trẻ đang nhí nhóp bơm cái xuồng cao su. Tôi đưa mắt lục lọi bốn phía trời, vẫn chẳng thấy gì hết ngoài một đại dương nước đen ngầu, chảy vật vã dưới vòm mây hoang vu, khô héo. Đảo đâu?

- Kia kìa. Nó đấy! Chính cu cậu đấy!

Cậu lính nói khào khào, rồi vung tay chỉ lên... lưng chừng trời. Ở đó, một đàn chim bay loạn xạ. Nhưng con chim đen kít, trông như những nắm giẻ rách mà một gã tàng hình quái quỷ nào đó, cứ nhắm tịt mắt, rồi ném loạn xạ lên thinh không.

Dưới bầy chim, biển đen sẫm ánh lên một dải nước xanh ệnh như màu lá mạ. Trên quầng xanh rờn rợn ấy, xập xòe một lều bạt. Cái lều hoang sơ, ngơ ngẩn như lều vịt mà ông chủ đãng trí nào đó đã bỏ quên trên cánh đồng đang cày vỡ. Mái lều trũng xuống vì phân chim. Những vệt phân lâu ngày trắng xóa. Những vệt phân tươi nâu sậm, lác đác có những vệt đỏ nhờ, trang điểm cho mái lều một vẻ đẹp sặc sỡ đến quái đản. Đảo đấy! Nó là một dải nước xanh phơn phớt nằm dưới dân lều bạt.

Thế mà trong sách báo, cả sách khoa học, sách địa lý dành cho giới học đường, người ta lại định nghĩa: Đảo là phần nhô lên giữa biển khơi, bốn xung quanh là sóng gió, mây nước. Bịa! Toàn là bịa!

Làm gì có chuyện hoang đường như thế, hả các nhà khoa học? Xin các ngài hãy nhìn một sự thật lồng lộng hiện ra ở phía trước mặt kia kìa! Cứ tưởng các vị lúc nào cũng chính xác, cũng tỉnh queo như sáo tắm. Ai dè các bố cũng mơ mộng, cũng nói rặt những chuyện tưởng tượng. Đã thế lại còn đàn sáo văn thơ...

Truyện thứ hai: MỘT XỨ SỞ TỰ DO

Đường ra đảo...(Ảnh: VietNamNet)


Ở hòn đảo này quanh năm ì ọp sóng gió. Ngày hai lần nước ộc cả vào lều. Bởi vậy, ở lều đảo này, lại còn đảo trong đảo nữa. Đó là những khối giường sắt quét sơn trắng chống gỉ. Mỗi người lính "cố thủ" một khối giường. Có đến ba, bốn tầng giường xếp chồng lên nhau. Tầng cuối cùng chọc lên tận nóc bạt. Lính quen gọi là tháp Epphen. Đó là kỳ quan thế giới vẫn chìm khuất trong bóng tối bí mật mà loài người còn chưa kịp phát hiện.

Thoạt đầu, tôi ngạc nhiên. Sao lắm giường thế? Sau mới hiểu những giường tầng đó dùng cho một người lính chẳng nhiều nhặn gì. Bởi đó là giường chống sóng. Bình thường, sóng bạc đầu lao vèo vèo ngay dưới chân sàn. Thế rồi thủy triều lên. Thoạt tiên là tiếng sóng vỗ chóp chép vào các tấm thanh sắt gầm sàn như bầy lợn bú. Rồi ào một cái, nước ngập mặt sàn. Rồi tầng giường thứ nhất chìm nghỉm trong nước. Lính ôm chăn chiếu lên tầng hai, rồi tầng ba. Nước rút rồi lại tụt xuống.

Ai lười, ngại vận động thì cứ ngự luôn trên tận đỉnh giời. Tha hồ ngắm trăng sao mây nước. Nhưng ở đấy, ít ngài ngự được ở trên đó lắm. Trên đó tưởng tĩnh, hóa ra lại động. Động bởi mùi phân chim đâu có chịu yên. Thế nên lính cứ trèo lên, tụt xuống hoài hoài. Quanh năm, da thịt ẩm sì. Bởi thế lính ít khi đóng bộ. Thường chỉ vận roỏng rẻng một cái quần đùi, có khi cứ nhông nhênh như thể bà mụ vừa mới nặn. Quần áo lại dính nhớp nháp, ẩm ướt suốt đêm, ngày, hóa vướng víu, khó chịu. Mà quần áo là cái quái gì nhỉ? Hai bảo tôi:

- Quần áo là vật xa xỉ phẩm của xã hội, ông anh ạ! - Nói rồi cu cậu cười tít mắt. - "Mình "quàn" trong một đống vải là vì thiên hạ, chứ có phải vì mình quái đâu. Cứ tưởng quần áo là vật trang sức của riêng mình. Nhầm! Nó là đồ đạc của thiên hạ cả. Mà tức nhất đồ đạc của thiên hạ, nhưng thiên hạ lại bắt mình cứ suốt ngày đeo vác lỉnh kỉnh, nom ti tiện như cái gã bủn xỉn, lúc nào cũng lo sợ mất trộm. Ở đây, chẳng có thiên hạ nào hết, nên mình lại nhẹ nhõm, lại hóa anh tự do.

Hai gườm gườm nhìn tôi, như nhìn một người ở ngoài hành tinh:

- Trông ông anh nai nịt lỉnh kỉnh, nom rất lạ mắt và buồn cười. Thật, trông ông anh buồn cười lắm ý. Cứ như người trung cổ. Hình như đại ca có khuyết tật gì đó, nên cứ phải che che đậy đậy, giấu giấu giếm giếm. Chứ văn minh hoàn thiện như chúng em đây, có ai khổ sở, rúm ró như thế bao giờ...

Trích tập truyện "Đảo Chìm" của Trần Đăng Khoa, NXB Văn học, 2004.  

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu