Náo loạn... Phố Wall (Phần 4)

Trong buổi hội thảo "Turmoil on the Street", Giáo sư kiêm nhà sử học David A.Moss và Robert C.Merton, giáo sư trường Đại học John and Natty McAthur, cũng thể hiện mối quan tâm của họ về hậu quả khôn lường trước sự biến động mạnh mẽ của thị trường Phố Wall.


>> Náo loạn... phố Wall (Phần 1)

>> Náo loạn... phố Wall (Phần 2)

>> Náo loạn... phố Wall (Phần 3)

Rủi ro về đạo đức

Chính sự khủng hoảng niềm tin
trầm trọng dẫn đến sự sụp đổ của
cả một đế chế tài chính khổng lồ
Ảnh: www.galansearch.com

Giáo sư, đồng thời là nhà sử học, ngài David Moss, đã chỉ ra ba vấn đề liên quan mật thiết tới cuộc khủng hoảng tài chính đang tiếp diễn đó là: sự sụp đổ của bong bóng địa ốc, sự yếu kém trong kiến trúc tài chính và sự khủng hoảng trầm trọng lòng tin, đặc biệt trong khu vực tài chính.

Theo ông thì vấn đề đầu tiên chính là cội nguồn gốc rễ của mọi vấn đề, và rằng cuối cùng chúng ta sẽ không thể được chứng kiến bất kì sự thay đổi tích cực nào cho tới khi giá nhà dừng trượt dốc.

Ông gợi ý: “Phải quan sát kỹ lưỡng mọi biến động về giá nhà.”

Vấn đề nan giải thứ hai đang thách thức Mỹ chính là những yếu kém trong cấu trúc tài chính, với tỷ phần vốn vay quá cao đang lan rộng trong nhiều ngành công nghiệp, với những động lực thúc đẩy bị bóp méo trong các thỏa thuận về phụ cấp điều hành, và với các tổ chức đánh giá tín nhiệm không đạt được mục tiêu đề ra.

Vấn đề cuối cùng chính là sự khủng hoảng về lòng tin, gần như đã gây ra hiện tượng chảy máu ngân hàng khi người dân ồ ạt đổ xô đến ngân hàng rút tiền vào tuần trước. Cứ theo như những gì đã từng chứng kiến trong lịch sử, thì hậu quả của sự suy thoái về lòng tin như vậy thật nguy hiểm khó lường.

Chính phủ vào cuộc

Moss đưa ra nhận xét rằng: Trong khi kế hoạch giải cứu 700 tỷ có thể rất “hợp lý”, nhưng “điều mà tôi quan tâm là liệu chúng ta có cơ cấu nó một cách chính xác hay chưa, liệu chúng ta có tạo lên một hệ thống tài chính thậm chí còn rủi ro, mạo hiểm hơn trong những năm trước mắt hay không.”

Với tư cách như một nhà sử học, Moss tập trung chủ yếu vào việc tại sao Chính phủ lại tham gia vào quản lý rủi ro, và sẽ quản lý như thế nào. Xuyên suốt chiều dài lịch sử, nước Mỹ đã từng áp dụng hàng loạt các chính sách công rộng rãi để quản lý rủi ro, từ luật nợ giới hạn cho tới bảo hiểm tiền gửi liên bang.

“Nếu nhìn vào những chính sách này, một điều hiển hiện nhất có thể thấy là bất kì khi nào bạn chuyển đổi rủi ro, bạn đều phải cân nhắc tới khả năng xảy ra những rủi ro đạo đức. Bất cứ lúc nào bạn quyết định đưa ra một chính sách bảo hiểm, dù là thông qua khu vực tư nhân hay khu vực chính phủ, thì bạn đều cảm thấy e ngại mọi người có thể có những động cơ sai trái, không lành mạnh.”

“Những người được cứu thoát khỏi hiểm họa có thể sẽ chịu chấp nhận rủi ro cao hơm. Nếu bạn đã từng thuê một chiếc ô tô, mà bạn biết chắc rằng nó đã được bảo hiểm toàn bộ cho mọi mất mát, tổn thất có thể xảy ra, điều này đưa bạn đến động cơ lái xe ẩu hơn, hoặc đỗ xe ở một nơi nguy hiểm hơn. Đó là biểu hiện của sự rủi ro về đạo đức.”

Chính vì thế, theo quan điểm của Moss, khi chính phủ quản lý rủi ro, cần quan tâm tới những rủi ro về đạo đức. Một ví dụ điển hình là bảo hiểm tiền gửi liên bang. Bằng cách đứng ra đảm bảo cho các khoản tiền gửi ngân hàng, chính phủ liên bang có thể vô tình khiến cho các ngân hàng này chấp nhận các cơ hội mạo hiểm lớn nhất.

Theo ông, lý do mà hiện tượng này không phải lúc nào cũng xảy ra chính là bởi vì chúng ta không chỉ bảo hiển cho các ngân hàng (thông qua FIDC), mà còn hết sức thận trọng trong việc quản lý họ (thông qua FDIC - Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi liên bang[1], Fed - Cục Dự trữ Liên bang[2] và OCC – Cục kiểm soát tiền tệ[3]).

Hệ thống quy định cần sớm sửa đổi

Hệ thống quy định về tài chính Mỹ
cần sớm phải sửa đỏi nếu không
muốn tiếp tục gánh chịu những rủi ro
Ảnh:
www.gettyimages.com

Trên thực tế, luật định khởi nguồn (Luật Ngân hàng và Tiền tệ Quốc gia - National Currency and Bank Acts) thông qua sự ra đời của FDIC vào năm 1933, có hai phần điểm rất đáng chú ý liên quan tới bảo hiểm ngân hàng và các quy định ngân hàng theo ông cần phải sớm sửa đổi.

“Mối quan tâm nhất thời của tôi lúc này chính là mặc dầu đã có hàng ngành các cuộc thảo luận bàn về khoản cứu trợ 700 tỷ đô la, nhưng theo tôi, vẫn chưa có một buổi thảo luận nào tỏ ra đủ nhạy cảm với nhu cầu giám sát hợp lý hệ thống tài chính hiện nay.”

“Phải khẳng định rằng có rất nhiều buổi bàn luận đã nhắc tới vấn đề giám sát của Bộ trưởng Paulson, và rằng đó là một mục tiêu hấp dẫn. Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa hề đề cập tới việc vụ giải cứu này phản ánh yêu cầu cần phải giám sát các tổ chức tài chính tới đâu.”

“Chúng ta có thể rất nghiêm túc, sáng suốt khi đưa ra kế hoạch này. Nếu chúng ta không cơ cấu nó một cách chính xác, thì vẫn có thể sẽ cứu vớt được tình hình khủng hoảng hiện tại, nhưng đồng thời chính sự lỏng lẻo trong cấu trúc quản lý sẽ khuyến khích các ngân hàng tiếp tục cho vay với mức độ chấp nhận rủi ro cao hơn nhiều. Điều này sẽ vô cùng nguy hại” - ngài Moss phân tích.

Cần phải đưa ra một chính sách công có hiệu lực như một lời cảnh báo, và đây có thể coi như một phần hệ thống Giải cứu Thảm họa Liên bang ( Federal Disaster Relief) vốn được thành lập với mục đích giúp đỡ các nạn nhân từ các thiên tai. Chính sách này trong đó cần nêu rõ sẽ giải cứu bằng cách nào, nhưng không bao gồm các quy định về việc sử dụng đất đai hay phí rủi ro.

“Chúng ta đều thấy rằng, trong các lĩnh vực chứa đựng càng nhiều rủi ro, càng có độ thu hút lớn. Và chính vì do càng ngày càng nhiều người lao vào các lĩnh vực đó cho nên cứ như một vòng tròn thua lỗ lại khiến cho tai họa nối tiếp tai họa.”

“Trong trường hợp này, rất có thể sự hiện diện của quỹ giải cứu liên bang càng làm cho hiện tượng này gia tăng. Vậy thì điểm mấu chốt mà tôi muốn rút ra thông qua ví dụ này là, nếu như chúng ta thực sự mong muốn đáp ứng một chính sách như vậy, thì cần phải hết sức lưu tâm tới việc kiểm soát những khả năng xảy ra rủi ro đạo đức.”

Đổi mới nên và cần được tiếp tục duy trì

Giáo sư Robert Merton của trường Đại học McAthur, người từng vinh dự nhận giải Nobel kinh tế năm 1997, bắt đầu nhận xét của mình bằng cách chỉ ra rằng trong một cuộc khủng hoảng như hiện thời, một số lượng lớn tài sản – khoảng từ 3 tới 4 ngàn tỷ đô la Mỹ đã bị thất thoát mà không trông mong gì có thể phục hồi trở lại.

Sự thất thoát về tài sản sẽ gây ra gánh nặng đè lên vai những người chủ nhà, những người trực tiếp bỏ vốn ra để sở hữu chúng, và toàn bộ dân chúng nói chung mà trong một chừng mực nào đó chính phủ cũng có liên quan. “Đây không chỉ đơn giản là một cuộc khủng hoảng tính thanh khoản đơn thuần hay đơn giản là một vấn đề của hệ thống tài chính bị rối loạn”, ngài Merton nói.

Ông tiếp tục nhận xét, các mô hình tài chính tiêu chuẩn đã loại bỏ đi một vài trong số những điều bí ẩn nằm sau cuộc khủng hoảng này – chuyện gì đã xảy ra và điều gì giúp nhận biết được khủng hoảng. Tuy nhiên, thông điệp lớn hơn mà ông muốn gửi tới các sinh viên đang ngồi phía dưới là phải làm sao để làm nổi bật mối quan hệ giữa đổi mới tài chính và khủng hoảng.

“Có mối liên hệ cấu trúc nào giữa đổi mới và khủng hoảng? Tôi băn khoăn tự hỏi và khẳng định rằng nhất định phải có một mối quan hệ nào đó”, ngài Merton nói. “Đổi mới thành công luôn luôn bỏ xa cơ sở hạ tầng hậu thuận nó, ít nhất là trong một khoảng thời gian tương đối.”

Phố Wall: Bao giờ cho đến ngày... xanh?
Ảnh: wwwcache.wral.com

“Điều này hoàn toàn chính xác, bởi khi hầu hết những vụ đổi mới thất bại, sẽ không khả thi để xây dựng được một cơ sở hạ tầng phù hợp với mọi cuộc cải cách cho tới khi nhận ra rằng chúng đều thành công.”

“Chính vì thế, không thể tránh khỏi việc một lúc nào đó chúng không song hành cùng nhau. Và cũng vì thế mà chúng ta phải luôn luôn quan sát. Nhưng nếu giám sát một cách quá khắt khe, chúng ta sẽ không bao giờ đổi mới thành công. Luôn luôn có sự đánh đổi như vậy, và chúng ta cần sẵn sàng đón nhận điều đó.”

Ngài Merton cũng thể hiện sự quan tâm đặc biệt về những hậu quả không lường trước được trong nỗ lực đối mặt với khủng hoảng. Ông nhắc lại cho khán thính giả về các ngân hàng, cũng như các công ty bảo hiểm – nơi phát sinh ra một vài trong số các vấn đề này – rằng họ là một trong những thực thể được quản lý chặt chẽ nhất, hơn bất kì một bệnh viện nào trên nước Mỹ.

Ai cũng đồng ý rằng sự quản lý là quan trọng và cần thiết, nhưng “nó không phải là phép màu” – ông nói. Sự quản lý kém hiệu quả có thể để lại những hậu quả tai hại lâu dài.

“Tôi thực sự hy vọng rằng chúng ta sẽ xây dựng được một hệ thống đánh giá tài chính kỹ lưỡng trước khi bắt đầu đề ra các luật định” - theo ông gợi ý, thì giống như những cách thức tương đương được sử dụng bởi Ủy ban An toàn Giao thông Quốc gia (National Transportation Safety Board), chúng ta cần phân tích khủng hoảng tài chính bằng các cách thức vừa chuyên môn vừa kiên quyết.

Nghề nghiệp tài chính sẽ không mấy sáng sủa, và cơ hội tìm được việc làm trên thị trường phố Wall là vô cùng mong manh. Tuy nhiên một tin tốt lành là cuộc cải cách vẫn sẽ tiếp tục.

“Các chức năng tài chính của hệ thống, dù phục vụ cho việc lên kế hoạch nghỉ hưu hay cho các giao dịch, vẫn sẽ tiếp tục được duy trì. Đó là công việc kinh doanh toàn cầu lớn mạnh và nó vẫn là một trong những ngành có tác động rất lớn tới sự tăng trưởng và phát triển kinh tế.”

“Có một vài nhà bình luận cho rằng: ‘Chúng ta sẽ phải loại bỏ một số nhân tài trong lĩnh vực tài chính ra khỏi cơ cấu’. Nhưng theo ý kiến của tôi thì ngược lại, và điều tồi tệ nhất phải nói tới chính là về những ‘kĩ sư tài chính’.”

“Vấn đề một phần nằm ở các nhà quản lý cấp cao, những người giám sát sự điều tiết và thành viên của các ban bệ trong những tổ chức tài chính; họ không hiểu biết thực sự về tất cả vấn đề. Và hoàn cảnh éo le của chúng ta sẽ không có gì thay đổi, nếu như giải pháp lại đơn giản hóa vấn đề hoặc giới hạn những gì mà các tổ chức có thể làm (dựa trên những mặt họ đang phát triển) để phù hợp với các nhà quản lý hiện thời. Tôi nghĩ giải pháp dài hạn chính là các vị tổng giám đốc của các tổ chức phải sành sỏi, dày dạn kinh nghiệm hơn.”

“Thị trường việc làm tài chính có quy mô toàn cầu, và mảnh đất cho người tài vẫn còn rất lớn. Bất kì ai có khả năng trong việc quản lý chung, kết hợp với được đào tạo kỹ thuật để mở rộng tầm nhìn đều là nguồn lực cho những định hướng đổi mới trong tương lai”, ngài Merton kết luận.

- Martha Lagace tổng hợp từ những bài thuyết trình của các giáo sư Jay Light, Robert C. Merton, David Moss, Nicolas Retsinas và Clayton Rose. Bài đăng trên tạp chí Harvard Executive Education –

  • Tuyết Lan dịch

-------

[1] FDIC - Federal Deposit Insurance Corporation - được thành lập sau khủng hoảng tài chính đầu thế kỷ XX, vào ngày 16 tháng 6 năm 1933 theo sắc lệnh của Tổng thống Franklin D.Roosevelt. Đây là cơ quan bảo hiểm tiền gửi đầu tiên trên thế giới được thành lập và đi vào hoạt động. FDIC hoạt động độc lập với Chính phủ và chịu sự kiểm soát trực tiếp của Quốc hội. Mục đích thành l ập của FDIC là bảo vệ người gửi tiền trong các ngân hàng và các tổ chức nhận tiền gửi phi ngân hàng trên khắp nước Mỹ. Mạng lưới FDIC gồm Trụ sở chính đặt tại Washington DC, 06 chi nhánh khu vực đặt tại các tiểu bang. Dưới các chi nhánh khu vực còn có các chi nhánh địa phương là cơ quan trực tiếp thực hiện việc kiểm tra tại chỗ các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.

[2] Fed – Federal Reserve System có chức năng chủ yếu đối với ngành ngân hàng là đóng vai trò người cho vay cuối cùng, cung cấp các khoản tín dụng tạm thời cho những ngân hàng đang phải đương đầu với tình trạng tài chính khẩn cấp, giúp đỡ ổn định thị trường tài chính, giữ vững lòng tin của công chúng. Fed được lập ra cũng nhằm mục đích cung cấp các dịch vụ quan trọng cho ngành ngân hàng, trong đó có việc thiếp lập một mạng thanh toán bù trừ séc trên phạm vi toàn quốc. Tuy nhiên, nhiệm vụ quan trọng của Fed ngày nay là kiểm soát tình hình tiền tệ - tín dụng để thúc đẩy ổn định kinh tế, nhiệm vụ cuối cùng này của Fed được gọi là lập và quản lý chính sách tiền tệ.

[3] OCC – Office of Comptroller of the Currency – là một cơ quan được tách ra từ Bộ tài chính Mỹ. Cục kiểm soát tiền tệ không chỉ đánh giá sự cần thiết và cho phép thành lập các ngân hàng quốc gia mới mà còn thường xuyên kiểm tra tất cả các ngân hàng đang hoạt động. Ngoài ra, Cục kiểm soát tiền tệ còn phải xem xét tất cả đơn xin thành lập chi nhánh mới của các ngân hàng quốc gia và những vụ sát nhập trong đó có sự tham gia của ngân hàng quốc gia. Cục kiểm soát tiền tệ có thể quyết định đóng cửa một ngân hàng quốc gia, nếu nó cho là ngân hàng đó mất khả năng thanh toán hoặc gây ra những tổn thất tài chính nghiêm trọng đối với người gửi tiền.

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu