Minh bạch ngân sách và “lời nguyền tài nguyên”
(TuanVietNam) - Từ nghịch lý của sự giàu tài nguyên và các yếu tố dẫn đến "lời nguyền tài nguyên", các tác giả của bản báo cáo "Minh bạch tại các quốc gia phụ thuộc tài nguyên" đã cố gắng phân tích mối liên quan giữa 2 yếu tố này cũng như mối liên hệ giữa chúng đối với quản trị kinh tế. Một tư liệu quí cho Việt Nam, xứng đáng để điển cứu.
|
Rất nhiều quốc gia trên thế giới trong lúc được thiên nhiên ưu đãi sở hữu nguồn tài nguyên phong phú, cuối cùng lại mắc kẹt trong những chiếc bẫy đói nghèo và lạc hậu. Kỳ I của bài viết sẽ giới thiệu về các phân tích liên quan đến lời nguyền tài nguyên và minh bạch ngân sách, cũng như mối liên hệ giữa hai vấn đề này đối với quản trị kinh tế. |
Kỳ I: Nghịch lý của sự giàu tài nguyên
![]() |
![]() |
![]() |
| Tài nguyên thiên nhiên và sự minh bạch chính sách (Ảnh: aquasite.net, agenda21.monre.gov.vn) |
Một vài nghiên cứu trước đây đã cho thấy mối liên hệ giữa sự dư dật tài nguyên luôn đi kèm với tỉ lệ tăng trưởng thấp. Thực tế dường như cho thấy sự phổ biến của tình trạng các quốc gia phụ thuộc vào tài nguyên thường không có một nền kinh tế, xã hội và chính trị tích cực tương xứng.
Lý thuyết này đã trở nên quen thuộc đến mức được đánh đồng với “lời nguyền tài nguyên” hoặc “nghịch lý của sự giàu có”. Nhà phân tích Sachs và Warner sử dụng những dữ liệu phân tích chéo về xuất khẩu tài nguyên từ năm 1970-1989 để chứng minh về giả thuyết “lời nguyền tài nguyên”, khi cho rằng cấu trúc giá trị tại các quốc gia phụ thuộc tài nguyên khiến họ mất đi cơ hội hưởng lợi từ tăng trưởng do xuất khẩu tài nguyên.
Còn các chuyên gia Collier và Goderis lại khẳng định về sự tồn tại của lời nguyền này qua các dữ liệu phân tích phong phú hơn, cho thấy sự bùng nổ hàng hoá đã tạo ra những nhân tố tích cực ngắn hạn nhưng lại ấn định những tác động dài hạn ngược lại đối với sản lượng.
Một yếu tố quan trọng cho lý giải này, theo Collier và Goderis, nằm ở sức tiêu thụ cao và tỉ lệ đầu tư thấp và do một tỉ lệ trao đổi được đánh giá quá cao.
Một vài nghiên cứu còn nhấn mạnh đến những nhân tố kinh tế nằm dưới các lời nguyền tài nguyên, như tác động của “dịch bệnh Hà Lan” - một hiện tượng kinh tế trong đó việc phát hiện và khai thác ra các nguồn tài nguyên thiên nhiên làm giảm công nghiệp hoá nền kinh tế quốc gia.
Thêm vào đó, những hậu quả về mặt chính trị tại các quốc gia phụ thuộc vào tài nguyên, tiêu biểu là chính quyền độc tài và những cuộc nội chiến (Collier et al 2003; Wantchekon 1999) cũng góp phần làm trì trệ thêm xu hướng phát triển.
Sự gia tăng xuất khẩu tài nguyên ngược lại với lợi ích con người, cho thấy các quốc gia giàu tài nguyên cũng thường đứng ở vị trí thấp về phát triển con người.
Tuy nhiên, lý giải quan trọng trong các phân tích này thường nhấn đến mối liên hệ gián tiếp qua thể chế của mỗi quốc gia. Nói một cách rõ hơn, nền quản trị tồi và thể chế chính trị có xu hướng độc tài là nhân tố chính kéo tụt sự phát triển của các quốc gia giàu tài nguyên.
Khái niệm này dường như được hậu thuẫn thêm với thực tế rằng, không phải quốc gia nào được ưu ái tài nguyên cũng vấp phải những kinh nghiệm cay đắng về phát triển kinh tế.
Botswana là một trong những ngoại lệ: Một quốc gia giàu tài nguyên đã có những bước phát triển kinh tế thần tốc với tỉ lệ trung bình 7,8% kể từ năm 1980 (40% tăng trưởng này phụ thuộc vào khai thác mỏ) nhưng lại đi kèm với sự phát triển nền quản trị, bình ổn chính trị và các quy tắc tài chính mạnh mẽ.
5 yếu tố dẫn đến “lời nguyền tài nguyên”
![]() |
![]() |
![]() |
|
Khai thác tài nguyên và minh bạch thông tin, tránh tham nhũng chính sách |
Việc các quốc gia phụ thuộc tài nguyên thường có xu hướng thâu tóm sức mạnh và quyền lý giải cho các vấn đề liên quan tới chính trị, nền quản trị và quản lý kinh tế đã góp phần hạn chế phương pháp tiếp cận khoa học và kinh tế hơn.
Nó cũng là một phần của xu hướng tăng trưởng mà các nhà kinh tế và thực thi phát triển tại đây muốn né tránh cách tiếp cận kỹ trị, hòng làm giảm hoặc bỏ qua các nhân tố chính trị.
Tuy nhiên, phương pháp này thường “đối đầu với thực tế về hệ thống tài chính nặng về chính trị, thiếu đi cán cân kiểm tra và cân bằng cần thiết để đảm bảo rằng các nguồn tài nguyên được sử dụng hợp lý, cũng như cung cấp sự linh hoạt tài chính cần thiết nhằm điều chỉnh chi tiêu phù hợp với sự thay đổi về tài nguyên”.
Nhà phân tích Rosser (2006) đã nhấn mạnh đến 5 yếu tố: Behaviouralist (Chủ nghĩa hành vi); rational actor (nhân tố lý trí), state-centred (nhà nước trọng tâm), chủ nghĩa cấu trúc lịch sử (historico-structuralist) và vốn xã hội (social-capital) trong nỗ lực nhằm giải kiến tạo theo hướng chỉ trích các nhân tố chính trị ẩn dưới “lời nguyền tài nguyên” và ảnh hưởng của nó đối với các chính sách tại quốc gia phụ thuộc tài nguyên.
Lý giải về chủ nghĩa hành vi và nhân tố lý trí nhấn mạnh đến vai trò của giới tinh hoa chính trị tại những quốc gia phụ thuộc tài nguyên trong các chính sách kinh tế nghèo nàn và sự mục ruỗng thể chế.
Tuy nhiên, trong lúc Chủ nghĩa hành vi chú trọng đặc biệt đến các chính sách chi tiêu không rõ ràng dựa trên việc quá tay ký quỹ nguồn tài nguyên hàng hoá vào khoản vay chính phủ, “Nhân tố lý trí” lại nhấn mạnh đến hiệu quả khó tin của việc chạy chọt, lợi dụng quan hệ và sự tái phân phối thiếu hiệu quả các khoản thuê nợ kinh tế sau đó.
Trong khi đó, quan điểm nhà nước trọng tâm lại tranh cãi về trách nhiệm đối với các lỗi chính sách phát sinh từ việc thiếu trách nhiệm giải trình chung ở các quốc gia đi vay nợ, cho rằng cả khoản nợ tài nguyên và các chính sách tái phân bổ đều làm xói mòn trách nhiệm giải trình chính trị và sự phát triển của các thể chế theo xu hướng thị trường hơn.
Phân tích sâu hơn vào góc cạnh chính phủ, các lý giải về “chủ nghĩa cấu trúc lịch sử” và “vốn xã hội” chú trọng vào sự khác biệt giữa quyền lực chính trị và kinh tế, cũng như sự cố kết xã hội giữa các nhóm kinh tế xã hội khác biệt trong một nền kinh tế. Các quan điểm này cho rằng của cải sẽ tập trung vào một nhóm kinh tế được ưu đãi chính sách, mang lại những hậu quả tiêu cực cho cải tổ kinh tế.
Các sáng kiến quốc tế
Tuy nhiên, nhà phân tích Rosser lại cho rằng, ngay cả những lý giải này vẫn bỏ qua nền tảng cụ thể cũng như điều kiện khởi đầu của mỗi quốc gia, cũng như vai trò và tác động trung gian của các lực lượng xã hội trong nội tại và từ bên ngoài.
Các nhân tố bên ngoài đang ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn, do sự mở rộng giao thoa phụ thuộc kinh tế giữa tất cả các quốc gia, trong đó có những nước phụ thuộc tài nguyên.
Trong lĩnh vực này, sự tham gia ngày càng tăng của xã hội dân sự trong các chiến dịch chống lại tham nhũng và vi phạm nhân quyền liên quan tới mối quan hệ giữa các công ty công nghiệp đa quốc gia và chính phủ của các nước giàu tài nguyên đóng một vai trò quan trọng.
Trong những năm gần đây, một số các sáng kiến quốc tế đã được khởi xướng nhằm đối mặt với những thách thức về quản trị trên.
Ví dụ, Quỹ Tiền tệ Quốc tế đã đưa ra những hướng dẫn đặc biệt về minh bạch thu nhập tài nguyên để bổ trợ thêm cho những quy định về minh bạch tài chính. Tổ chức Sáng kiến Minh bạch Công nghiệp Khai khoáng (EITI) và “Chiến dịch Công bố những gì bạn phải trả” đã thúc giục công bố các khoản chi trả mà các công ty thuộc ngành công nghiệp khai khoáng gửi chính phủ.
Tổ chức Giám sát Lợi nhuận và Dự án Ngân sách Quốc tế (IBP) lại chú trọng đến phát triển năng lực nội bộ độc lập để giám sát chi tiêu và thu nhập của chính phủ. Việc khuyến khích các lực lượng xã hội nội tại sẽ có thể giúp cung cấp cái nhìn thấu đáo hơn về cơ chế mà qua đó các nhân tố bên trong đã thông đồng với giới cầm quyền để ủng hộ, thậm chí là chủ trương đưa ra, các thay đổi thể chế có lợi cho họ.
Vai trò của xã hội dân sự
Chính vì vậy, các vấn đề về minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của xã hội dân sự đối với quy trình ngân sách đang ngày càng được đẩy lên như một trong những thách thức chính vê quản trị mà các quốc gia giàu tài nguyên cần giải quyết, nhằm gỡ bỏ những cách hiểu lệch lạc về lời nguyền tài nguyên.
Minh bạch ngân sách được định nghĩa như “sự công bố đầy đủ tất cả các thông tin tài chính tương thích một cách hệ thống và đúng thời điểm”. Minh bạch được xem như chìa khoá.
Kỳ 2: Minh bạch chính sách tại các quốc gia phụ thuộc tài nguyên
- Mỹ An (dịch từ tư liệu thuộc bản quyền UNESCO 2009. Nguồn tư liệu: viet-studies.info)





