"Mảnh đất ngoại giao văn hóa mới chỉ xới lên"

Thiếu một thông điệp mang tính định hướng, "mảnh đất" ngoại giao văn hóa mới chỉ được "xới lên", mà xới chưa bài bản, thống nhất - nhà ngoại giao Tôn Nữ Thị Ninh chia sẻ.

>> Ngoại giao văn hóa và hình ảnh "người Việt xấu xí"
>> Nâng hàm lượng văn hóa trong ngoại giao
>> Cuộc đua trình diễn vẻ đẹp "tâm hồn quốc gia"


Tìm ra cái gốc của văn hóa Việt

- Là một người trong ngành, bà nhìn nhận như thế nào về ngoại giao văn hóa trong hoạt động đối ngoại Việt Nam? 

So với 15 năm trước, rõ ràng khoảng 5-7 năm trở lại đây,  ngoại giao đã có bước chuyển nhận thức từ ngoại giao chính trị sang ngoại giao kinh tế, ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế và ngoại giao văn hoá. Việt Nam bắt đầu hiểu trong bối cảnh toàn cầu hoá, ngoại giao văn hoá giữ vai trò ngày càng quan trọng, khi đã có những cuộc thảo luận về sự va chạm văn hoá giữa các nền văn minh, khi UNESCO, Tổ chức Pháp ngữ... bàn về đối thoại giữa các nền văn minh. 

Nhận thức vai trò của văn hoá gắn liền với toàn cầu hoá. Dường như có hai tuyến đối lập song song cùng tồn tại trong toàn cầu hoá. Người ta vừa nói về cả thế giới là một ngôi làng, một không gian thống nhất, nói về “biên giới mềm” đồng thời xuất hiện xu hướng khẳng định lại và khẳng định mạnh của các quốc gia mới độc lập về bản sắc dân tộc. Bản sắc dân tộc đó với cái lõi là ngôn ngữ, văn hoá.

Bản sắc văn hoá, gốc rễ văn hoá là một nhân tố mạnh của các xã hội trong thế kỷ XXI, và trong giao lưu quốc gia, dân tộc, văn hoá sẽ là một nhân tố quan trọng. 

Trong trường hợp nước Mỹ, một số nhà nghiên cứu, tư tưởng cho rằng, thế tương quan về kinh tế của nước này so với nhiều nước khác tương đối yếu đi, còn Joseph Nye cho rằng, nước Mỹ vẫn đi đầu thế giới về "sức mạnh mềm". 

Trong quyền lực mềm, ai làm chủ CNTT có thể đứng đầu quyền lực mềm. Sức hút, hấp dẫn của lối sống, văn hoá Mỹ đến cái gọi là “giấc mơ Mỹ” chính là sức mạnh, quyền lực mềm của nước Mỹ. Điều đó khẳng định nhân tố văn hoá trong quan hệ giữa các quốc gia dân tộc rất quan trọng. Vấn đề đặt ra là, khi triển khai hoạt động ngoại giao văn hoá, Việt Nam đặt ra mục tiêu là gì, con đường đạt mục tiêu đó ra sao? 

- Cơ sở nào cho ngoại giao văn hóa?     

Các bài viết cùng chủ đề

Cuộc trình diễn vẻ đẹp tâm hồn quốc gia

Nâng hàm lượng văn hoá trong ngoại giao

Ngoại giao văn hoá và hình ảnh người Việt xấu xí

"Mảnh đất ngoại giao văn hoá mới chỉ được xới lên"

Văn hóa nước nào cũng có đặc sắc riêng. Để xác định đặc sắc của văn hóa Việt, lẽ ra trước khi các Đại sứ Việt Nam sang nhậm chức, Bộ Ngoại giao nên tổ chức hội thảo với các nhà văn hóa của Việt Nam, thậm chí cả những người nước ngoài sống ở Việt Nam, hiểu văn hóa Việt Nam để xem dưới con mắt họ, văn hóa Việt Nam có gì hay. Chưa nói tới một cẩm nang về ngoại giao văn hóa nhưng chí ít có một định hướng chung.

Hiện nay, Vụ Văn hóa đối ngoại và UNESCO đang nghiên cứu đưa ra sổ tay văn hóa đối ngoại. Tôi rất ủng hộ sáng kiến này. Chỉ e sổ tay sẽ đi vào hướng dẫn cụ thể mà thiếu định hướng văn hóa Việt Nam có đặc thù gì, có nét gì hay.

Quan điểm về đặc sắc của văn hóa Việt Nam rất khác nhau. Chúng ta phải cùng trao đổi để tìm ra gốc của vấn đề, tạo nhận thức thống nhất tạm thời. 

Sau 5-10 năm, chúng ta nhìn lại, trên cơ sở nghiên cứu mới soi sáng những điểm hay và điều chỉnh. Gốc của ngoại giao văn hóa chính là nhận thức thích hợp, kịp thời và phải được kiểm nghiệm bằng hành động. Cẩm nang đó được sử dụng trong thực tế, điều chỉnh cho phù hợp. 

Không có nhận thức nào đóng đinh, bất dịch, không chuyển hóa. Nhận thức văn hóa cũng vậy, sẽ chuyển hóa theo sự chuyển hóa của dân tộc.

Vẫn chưa biết phải làm thế nào

- Theo bà, ngoại giao văn hóa đã được nhận thức và triển khai đúng tầm cần có hay chưa?

Nhiều người chỉ nghĩ ngoại giao văn hoá là đưa văn nghệ, ca múa nhạc Việt Nam ra nước ngoài, cao hơn là đưa phim, nghệ sỹ Việt Nam ra nước ngoài. Nếu như thế thì đơn giản và dễ thực hiện quá. Chúng ta chưa đặt vấn đề ở tầm thông điệp. 

Ảnh: vietbao.vn


Đó không chỉ là thông điệp về văn hoá quá khứ, truyền thống mà phải bao gồm văn hoá hiện đại, cái hay, hấp dẫn, riêng biệt của văn hoá Việt Nam như thế nào với thế giới. 

Tôi thường đặt câu hỏi, liệu văn hoá Việt Nam có nhân tố ảnh hưởng, có lưu dấu vết của chiến tranh hay không? Liệu chiến tranh có đơn thuần chỉ là câu chuyện chính trị, quân sự? 

Làm ngoại giao văn hoá phải có định hướng rõ, đúng, trúng. Do đó, chúng ta cần có cuộc đối thoại ở cấp có thẩm quyền. Không bắt mọi người giống nhau nhưng ít nhất có một hướng tiếp cận chung. Ví dụ, nói Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, sẽ vận dụng như thế nào vào ngoại giao văn hoá? Điều này đòi hỏi có sự nghiên cứu, suy nghĩ.

Hiện nay, các hoạt động ngoại giao văn hoá của ta vẫn còn lẻ tẻ, bó hẹp… Chúng ta đưa văn hoá dân tộc ra ngoài theo nghĩa hẹp. Nói cách khác, chúng ta mới chỉ xới lên mảnh đất ngoại giao văn hoá, mà xới chưa bài bản, chưa thống nhất, thiếu một hướng lớn.

Những gì Việt Nam đưa ra là giữ nguyên quá khứ, không đưa bộ mặt sáng tạo cái mới của Việt Nam. Biết giữ gìn di sản văn hóa là tốt nhưng cũng phải thể hiện sự phát huy văn hóa bằng sáng tạo. Chúng ta chưa phát huy đúng mức khía cạnh sáng tạo này.

Hiện nay, tuần lễ văn hóa Việt Nam, ngày Việt Nam tại nước ngoài… đã được thực hiện nhiều nhưng có vẻ không ai biết vấn đề phải làm như thế nào, văn hoá ra sao trong tác động quốc tế. 

Văn hóa Việt giao thoa và độc đáo  

- Việt Nam nên chuyển thông điệp ngoại giao văn hóa như thế nào?

Việc này cần có sự nghiên cứu, đầu tư kĩ lưỡng để có câu trả lời đầy đủ.

Hiện, tôi đang cố gắng chuyển thông điệp về văn hoá Việt Nam ngày nay vẫn là của Việt Nam giai đoạn kháng chiến oanh liệt, không tương phản với quá khứ anh hùng, dũng cảm. 

Ảnh: cinet.gov.vn


Tôi muốn cho thấy một sợi dây liên kết quá khứ và hiện tại, sợi chỉ đỏ xuyên suốt lí giải bước đi của Việt Nam từ xưa tới nay. Muốn hiểu Việt Nam ngày nay, phải hiểu Việt Nam ngày trước. Trong Việt Nam hiện đại có di sản của quá khứ và những mầm mống, gốc rễ của quá khứ đặc biệt đó hằn vào Việt Nam hiện đại.

Hai là, Việt Nam là đất nước nằm ở ngã ba đường, giữa các khu vực kinh tế, văn hóa Đông Nam Á và Đông Bắc Á. Như cựu Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu nói, Việt Nam là một trong số ít nước thuộc vùng văn hoá cầm đũa, cùng với Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc. Theo nghĩa đó, Việt Nam có một chân ở Đông Bắc Á. 

Đồng thời, xét về lịch sử, địa lý và văn hoá, đặc biệt văn hoá ẩm thực, kiến trúc, Việt Nam lại là một thành viên thực thụ về văn hoá của Đông Nam Á. Việt Nam là nhịp cầu, là giao điểm của các tiểu vùng văn hoá.

Trong giao điểm đó, Việt Nam cũng rất độc đáo, ví dụ trong ẩm thực, Việt Nam không giống Trung Quốc, Thái Lan, cũng như Indonesia và Malaysia nhưng chịu ảnh hưởng của tất cả các ẩm thực đó và cả ẩm thực Pháp. Những tác động phức hợp đó cuối cùng nhào nặn nên những nét riêng của chính Việt Nam.

Có thể nói, Việt Nam là giao điểm, nhịp cầu văn hoá nhưng có bản sắc hoàn toàn riêng, độc đáo, là nền văn hoá phức hợp nhưng riêng biệt.

Ba là, xét trong ý nghĩa của hành trình kinh tế, chính trị, văn hoá, nếu trong quá khứ, Việt Nam là tấm gương về giải phóng dân tộc, thì hiện nay, khi Việt Nam thành công trong bài toán phát triển, Việt Nam cũng có thể là điển hình của bài toán phát triển. 

Từ một đất nước bị tàn phá trong quá khứ, Việt Nam đạt được như ngày nay, với đường lối hội nhập, đổi mới kinh tế đồng thời có những nhân tố văn hoá tồn tại trong dân tộc Việt Nam sẵn có, tạo nên thành tựu. Croatia, các nước châu Phi thăm Việt Nam cũng vì điều đó.

Ngay nội lực phát triển của Việt Nam cũng có khía cạnh văn hóa, vừa kết hợp ý thức cộng đồng, truyền thống gia đình, giá trị truyền thống, vừa có sự chủ động vươn lên, khẳng định mãnh liệt của các cá nhân. Không có cá tính cá nhân đó, chắc gì Việt Nam đã đạt được những kết quả cả ngày hôm nay.

Mỗi Đại sứ cần hiểu đủ về văn hóa Việt

- Các nhà ngoại giao như thế nào trong triển khai chính sách ngoại giao văn hoá?

Phải khẳng định một Đại sứ không thể thay thế cho người chuyên sâu về văn hoá. Tôi không thể biết trong hội họa, ai là người giỏi nhất, điểm nào là mới nhất. Tuy nhiên, là một Đại sứ, khi ra đầu bài cho trong nước để giới thiệu văn hoá ra nước ngoài không thể nói gửi cho tôi một đoàn họa sĩ trẻ hay một đoàn chèo. 

Cái cần nhất đối với Đại sứ trong ngoại giao văn hoá là ra đầu bài để trong nước xem xét, cử đoàn. Còn đoàn nào phải người trong làng văn hóa giới thiệu. Nếu đòi hỏi nhà ngoại giao làm trực tiếp, hiểu sâu sắc thì khó quá. Ví dụ, nếu chúng ta muốn tổ chức triển lãm tranh ở một nước Bắc Âu, khu vực có truyền thống coi trọng vấn đề giới, Đại sứ có thể ra đầu bài, trong các nghệ sĩ, nên mời nữ, còn nữ nghệ sĩ nào thì phải ở trong nước giới thiệu và quyết định.

Đồng thời, Đại sứ phải biết Việt Nam có gì hay để giới thiệu tổng thể nhất, ở từng lĩnh vực, thể loại, từng ngành văn hoá. Ví dụ, một điển hình văn hoá nổi bất của Việt Nam là ẩm thực. Thực hiện ngoại giao văn hóa qua ẩm thực vừa dễ thực hiện, “an toàn”, dễ thành công. Giới thiệu cái gì khác của văn hóa Việt Nam cần cân nhắc, tính toán kĩ càng hơn. Không chỉ cần biết chọn gì để giới thiệu mà cần xác định hình thức thích hợp, chỉ trình bày hay cần hội thảo. 

Bản thân Đại sứ không chuyên hẳn về văn hoá, về từng ngành văn hoá - nghệ thuật nhưng phải quan tâm đủ để khi đứng ra tổ chức sự kiện, nếu được hỏi có thể trả lời đúng tầm, đúng mức của một vị Đại sứ, nói tổng quát, đúng hướng, nêu được một vài khía cạnh hay , nổi bật, còn cụ thể như thế nào phải dựa vào các nhà chuyên môn.

  • Phương Loan
* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu