Hoạch định ranh giới biển giữa VN và TQ (kỳ 3)

(TuanVietNam) – Cuốn “Giới thiệu một số vấn đề cơ bản của luật biển ở Việt Nam” dành một chương riêng để nói về khu vực thềm lục địa Tư Chính của Việt Nam. Trong phần này, cuốn sách cung cấp kiến thức căn bản về thềm lục địa, chế độ pháp lý cho thềm lục địa, và chủ quyền đối với khu vực Tư Chính.


Tên sách: GIỚI THIỆU MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA LUẬT BIỂN Ở VIỆT NAM
Tác giả: tập thể tác giả
Phát hành: Bộ Ngoại giao, Ban Biên giới, NXB Chính trị Quốc gia, 2004

* * *

>> Kỳ 1: Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ
>> Kỳ 2: Hiệp định hợp tác nghề cá giữa VN và TQ



KHÁI NIỆM VỀ THỀM LỤC ĐỊA

Khái niệm thềm lục địa trong khoa học pháp lý quốc tế ra đời là kết quả của các thành tựu khoa học, kỹ thuật biển trong vài chục năm gần đây. Kết quả đó cho phép con người đi xuống các tầng sâu của đáy biển và phát hiện ra các nguồn tài nguyên giàu có ở đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, được thúc đẩy bởi nhu cầu của con người muốn làm chủ và khai thác các nguồn tài nguyên đó phục vụ cho đời sống và phát triển, vượt qua các khó khăn về bùng nổ dân số và sự cạn kiệt dần dần tài nguyên lục địa.

Vào thời xa xưa, con người còn hình dung là biển không có đáy. Từ khi khoa học chứng minh được sự tồn tại của đáy biển với địa hình nhấp nhô đa dạng như trên đất liền đến đầu những năm 1940, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm ngoài giới hạn lãnh hải, về cơ bản, luôn được coi là bộ phận của biển cả, không thuộc quyền của quốc gia ven biển nào.

Năm 1942, lần đầu tiên trong lịch sử, vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển trong vịnh Paria nằm ngoài giới hạn của lãnh hải, mà trước đó luôn được coi là một bộ phận của biển cả (biển quốc tế, biển công, đã được hai quốc gia là Anh và Venezuela phân chia cùng với sự thừa nhận các quyền thuộc chủ quyền của mỗi quốc gia đối với vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển tương ứng.

Tuy nhiên, khái niệm tương đối đầy đủ đầu tiên về thềm lục địa được chính thức nêu ra vào đầu năm 1945, bởi Tuyên bố của Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman về “Chính sách của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đối với tài nguyên thiên nhiên của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của thềm lục địa”. Trong đó, Hoa Kỳ thừa nhận thềm lục địa là sự mở rộng lãnh thổ đất liền của quốc gia ven biển nên thuộc quyền của quốc gia đó, quốc gia ven biển kế cận có quyền tài phán và kiểm soát đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên của đáy và lòng đất dưới đáy của thềm lục địa nằm tiếp giáp với lãnh thổ lục địa của quốc gia ven biển.

Do đó, tuyên bố quyền tài phán và kiểm soát của Hoa Kỳ đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa bao quanh lãnh thổ lục địa Mỹ ra đến độ sâu được hiểu là không quá 100 sải (khoảng gần 200 m) nước. Bắt đầu từ thời điểm này, học thuyết về thềm lục địa phát triển và đi vào cuộc sống.

Năm 1958, cộng đồng quốc tế thành công trong việc pháp điển hóa khái niệm thềm lục địa trong luật biển quốc tế bằng việc thông qua Công ước Geneve về thềm lục địa cùng với ba công ước khác về lãnh hải và vùng tiếp giáp, về biển cả, về đánh bắt cá và bảo vệ tài nguyên sinh vật ở biển cả. Ngày 10-6-1964, Công ước về thềm lục địa bắt đầu có hiệu lực sau khi có 22 nước phê chuẩn và tham gia.

Vào thời điểm này, khoa học cho rằng, vùng biển chạy thoai thoải từ lục địa ra biển đến nơi có sự thay đổi độ dốc đột ngột chính là sự mở rộng tự nhiên của lục địa dưới biển và là thềm lục địa. Độ sâu trung bình của mép thềm lục địa (nơi có sự biến đổi độ dốc) là khoảng 200 m nước. Công nghệ khai thác biển lúc đó cũng chỉ cho phép đến độ sâu 200 m là tối đa. Do đó, Công ước năm 1958 đã xác định phạm vi “thềm lục địa pháp lý” như sau: “… thuật ngữ “thềm lục địa được sử dụng để chỉ:

a) đáy và lòng đất dưới đáy của các khu vực ngầm dưới biển tiếp giáp với bờ biển nhưng nằm ngoài lãnh hải và ra đến độ sâu 200 m nước;

b) hoặc vượt ra ngoài giới hạn đó ra đến độ sâu cho phép khai thác được các tài nguyên thiên nhiên của các khu vực ngầm dưới biển đó;

c) để chỉ đáy và lòng đất dưới đáy của khu vực ngầm dưới biển tương tự tiếp giáp với bờ của các đảo”

(Điều 1)

Trong phạm vi “thềm lục địa pháp lý”, “quốc gia ven biển thực hiện các quyền chủ quyền nhằm mục đích thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa” (Điều 2).

Theo Công ước, các quyền chủ quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa là riêng biệt, không ai có thể thăm dò hoặc khai thác tài nguyên của thềm lục địa mà không được sự đồng ý của quốc gia ven biển. Các quyền chủ quyền này là hiển nhiên, không phụ thuộc vào việc có chiếm hữu thực sự hay danh nghĩa, hay có bất cứ tuyên bố nào không.

Công ước cũng đề ra các trách nhiệm của quốc gia ven biển, khi thực hiện các quyền chủ quyền của mình đối với thềm lục địa, không được làm ảnh hưởng đến quy chế pháp lý khối nước (biển cả) và vùng trời ở phía trên thềm lục địa, không được gây cản trở bất hợp lý cho hàng hải, nghề cá, bảo tồn tài nguyên sinh vật biển và hoạt động nghiên cứu khoa học chung. Các nước khác được quyền đặt dây cáp và ống dẫn ngầm trên thềm lục địa của quốc gia ven biển.

Công ước năm 1958 về thềm lục địa đã lần đầu tiên khẳng định quốc gia ven biển có quyền chủ quyền về thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa trên cơ sở tiếp giáp với bờ biển (sự mở rộng tự nhiên của lãnh thổ đất liền ra biển) chứ không phải theo nguyên tắc hay danh nghĩa của sự chiếm hữu, biến nó trở thành một nguyên tắc của luật pháp quốc tế.

Có thể thấy, theo quy định của Công ước năm 1958 về thềm lục địa, phạm vi thềm tự nhiên và “thềm lục địa pháp lý” tương đối trùng nhau, bắt đầu từ đường bờ biển (thềm tự nhiên) hay từ ranh giới ngoài của lãnh hải (thềm pháp lý), phạm vi của thềm lục địa được xác định ra đến nơi có độ sâu 200 m nước hoặc đến một độ sâu khả năng kỹ thuật cho phép khai thác được tài nguyên thiên nhiên. Các đảo (vùng đất tự nhiên có nước bao bọc xung quanh luôn luôn cao hơn mức nước triều lớn nhất) cũng có thềm lục địa như vậy. Để xác định phạm vi thềm lục địa, người ta áp dụng hai nguyên tắc về độ sâu (200 m nước) và nguyên tắc về kỹ thuật (khả năng cho phép khai thác).

(Nguồn ảnh: agenda21.monre.gov.vn)


Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ biển đã nhanh chóng làm cho các quy định về xác định phạm vi thềm lục địa của Công ước năm 1958 trở nên không còn phù hợp. Người ta phát hiện ra rằng, về mặt địa chất, sự mở rộng tự nhiên của lãnh thổ đất liền ra biển không kết thúc ở mép thềm lục địa tự nhiên mà là ở bờ ngoài của rìa lục địa; quy định về độ sâu cho phép khai thác không cố định và khó xác định cụ thể; về mặt lý thuyết con người đã có thể khai thác được tài nguyên ở bất cứ độ sâu nào.

Các quốc gia mới giành được độc lập muốn có tiếng nói trong việc xác định trật tự pháp lý quốc tế mới trên biển, trong đó có việc xác định một cách phù hợp và chính xác hơn phạm vi của thềm lục địa và chế độ pháp lý của nó để bảo vệ các quyền và lợi ích trên biển của mình phục vụ cho sự phát triển.

Công ước của LHQ về Luật biển năm 1982 quy định: “Thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần hơn” (Điều 76).

Như vậy, thềm lục địa pháp lý của quốc gia ven biển là sự kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền, bao gồm toàn bộ rìa lục địa (thềm lục địa tự nhiên, dốc lục địa và bờ ngoài của rìa lục địa). Ở nơi nào, rìa lục địa không ra đến 200 hải lý thì thềm lục địa pháp lý được mở rộng ra đến 200 hải lý. Ở nơi rìa lục địa vượt quá 200 hải lý thì ranh giới ngoài của thềm lục địa được xác định bằng cách nối các điểm ở nơi mà bề dày trầm tích ít nhất cũng bằng 1% khoảng cách từ các điểm đó đến chân dốc lục địa; hoặc nối các điểm cách chân dốc lục địa nhiều nhất là 60 hải lý.

Tuy nhiên, dù được xác định như trên, giới hạn tối đa của thềm lục địa cũng không được vượt quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở lãnh hải hay không được cách đường đẳng sâu 2.500 m nước một khoảng cách vượt quá 100 hải lý. Có nghĩa là, nếu quốc gia ven biển nối các điểm có bờ dày trầm tích bằng 1% khoảng cách đến chân dốc lục địa, hoặc không quá 60 hải lý kể từ chân dốc lục địa mà đường nối đó lại cách đường cơ sở quá 350 hải lý, hoặc cách đường đẳng sâu 2.500 m quá 100 hải lý thì quốc gia ven biển phải thu hẹp quy định bề rộng của thềm lục địa nơi đó lại cho phù hợp (hạn chế việc quốc gia ven biển có thềm lục địa quá rộng).

Để xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa, luật quốc tế sử dụng và kết hợp ba yếu tố: khoảng cách (200, 350, 60, 100 hải lý), yếu tố địa chất (sự kéo dài tự nhiên của lục địa, rìa lục địa, bề dày trầm tích 1%, chân dốc lục địa), và độ sâu (đường đẳng sâu 2.500 m).

Về chế độ pháp lý, tương tự như Công ước năm 1958 về thềm lục địa, Công ước Luật biển năm 1982 quy định:

  1. “Quốc gia ven biển thực hiện các quyền thuộc chủ quyền đối với thềm lục địa về mặt thăm dò khai thác tài nguyên tài nguyên thiên nhiên của mình.
  2. Các quyền nói ở khoản 1 có tính chất đặc quyền, nghĩa là nếu quốc gia ven biển không thăm dò thềm lục địa hay không khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa thì không ai có quyền tiến hành các hoạt động như vậy nếu không có sự thỏa thuận rõ ràng của quốc gia ven biển.
  3. Các quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa không phụ thuộc vào sự chiếm hữu thực sự hay danh nghĩa, cũng như vào bất cứ tuyên bố rõ ràng nào”.

Đồng thời, Công ước cũng quy định quốc gia ven biển có quyền tài phán (cho phép hoặc không cho phép) đối với việc xây dựng và lắp đặt các công trình, thiết bị và đảo nhân tạo, nghiên cứu khoa học biển, bảo vệ và giữ gìn môi trường biển trong vùng thềm lục địa của mình. Chỉ các đảo thích hợp cho con người đến ở hay có đời sống kinh tế riêng mới được hưởng quyền có thềm lục địa riêng.

Mặt khác, Công ước cũng quy định quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa không được ảnh hưởng tới quy chế của vùng nước và vùng trời ở trên, tới quyền tự do hàng hải hay các quyền tự do khác được luật pháp quốc tế thừa nhận. Các nước ngoài có quyền được đặt dây cáp và ống dẫn ngầm trong thềm lục địa của quốc gia ven biển, khi tiến hành khai thác tài nguyên thềm lục địa nằm ngoài giới hạn 200 hải lý, quốc gia ven biển phải có nghĩa vụ đóng góp vào quỹ chung quốc tế theo một tỷ lệ nhất định.

Trong các khu vực có sự chồng lấn về thềm lục địa được xác định theo đúng các quy định của Công ước, các quốc gia đối diện hay kế cậncó liên quan giải quyết việc hoạch định ranh giới thềm lục địa bằng con đường thỏa thuận theo đúng luật quốc tế như dã được nêu ở Điều 38 trong Quy chế của Tòa án Quốc tế để đi tới một giải pháp công bằng.

KHU VỰC TƯ CHÍNH THUỘC THỀM LỤC ĐỊA VIỆT NAM

Khu vực bãi ngầm Tư Chính nằm trên sự trải dài của thềm lục địa phía nam Việt Nam, cách đường cơ sở lãnh hải Việt Nam nơi gần nhất chỉ khoảng 84 hải lý, nơi xa nhất chưa đến 200 hải lý, còn thấp hơn rất nhiều khoảng cách tối đa 350 hải lý. Độ sâu khu vực này chưa 2.000 m, nên không cần phải tính đến tiêu chuẩn cách đường đẳng sâu 2.500 m một khoảng cách 100 hải lý như Công ước quy định.

Khu vực bãi ngầm Tư Chính là các bãi ngầm, là bộ phận của đáy biển, không phải là đảo, nằm cách xa đảo gần nhất của quần đảo Trường Sa trên 50 hải lý và cách biệt quần đảo này bởi một máng sâu khoảng 2.000 m, nên không thể được coi là “phụ thuộc” vào bất cứ đảo nào của quần đảo.

Hơn thế nữa, đảo Phú Quý của Việt Nam riêng nó cũng có đủ tiêu chuẩn để có vùng thềm lục địa riêng bao phủ toàn bộ khu vực Tư Chính. Theo các tiêu chuẩn về địa chất, khoảng cách và độ sâu của Công ước năm 1982 về Luật biển, có thể thấy rõ khu vực này là bộ phận của thềm lục địa Việt Nam và quy chế này không hề bị phụ thuộc vào sự chiếm hữu thực sự hay danh nghĩa hay cái gọi là tuyên bố chủ quyền nếu có của bất kỳ một quốc gia nào khác.

Mọi người đều biết, ngày 8-5-1992, Công ty CNOOC (Công ty Dầu khí Hải dương Quốc gia) Trung Quốc đã ký kết một cách bất hợp pháp với Công ty Dầu khí Crestone (Mỹ) cái gọi là “Hợp đồng thăm dò dầu khí Vạn An Bắc 21” trên khu vực các bãi ngầm Tư Chính trong thềm lục địa Việt Nam. Căn cứ vào luật pháp quốc tế về thềm lục địa, có thể thấy ngay tính chất bất hợp pháp của việc ký kết một hợp đồng như vậy và việc tiến hành các hoạt động thăm dò ở khu vực Tư Chính.

Rõ ràng là, khu vực Tư Chính hoàn toàn không có gì liên quan đến lãnh thổ và thềm lục địa Trung Quốc. Nó nằm cách xa lục địa Trung Quốc đến 600 hải lý, xa hơn rất nhiều tiêu chuẩn tối đa 350 hải lý cách đường cơ sở của luật biển quốc tế, lại bị tách khỏi lục địa Trung Quốc bởi một mảng sâu đại dương rộng lớn trong Biển Đông sâu trên 4.000 m.

Các đảo ở quần đảo Trường Sa cũng không thích hợp cho con người đến ở hay có một đời sống kinh tế riêng nên không những không thể có thềm lục địa riêng, càng không thể khoanh quần đảo tương tự như “quốc gia quần đảo” để từ đó nêu yêu sách về thềm lục địa. Chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa là thuộc Việt Nam. Trung Quốc đưa ra lập luận mơ hồ rằng, đây là vùng nước kế cận của quần đảo “Nam Sa” (Trường Sa) của họ nên cũng là “lãnh thổ” của Trung Quốc. Trung Quốc lại nói họ vẽ “đường lưỡi bò” trong Biển Đông từ lâu và được mọi người thừa nhận!

Nhìn lại lịch sử phát triển và các quy định của luật biển quốc tế, đặc biệt về thềm lục địa, chúng ta biết rằng không hề có cơ sở nào để khẳng định toàn bộ Biển Đông là “vùng nước lịch sử” của một quốc gia, càng không có khái niệm “biển lịch sử” của bất cứ nước nào. Một sự khẳng định như vậy không những không có căn cứ pháp lý mà còn cả về phương diện lịch sử, bất chấp thực tế lịch sử của quá trình sử dụng, khai thác Biển Đông từ lâu đời của các dân tộc sống quanh Biển Đông và của các nước khác có liên quan, bất chấp sự tồn tại của trật tự pháp lý quốc tế được cộng đồng và thực tiễn đời sống quốc tế vun đắp xây dựng nên. Không ai có thể thừa nhận một yêu sách vô lý đến như vậy.

Theo luật biển quốc tế, quyền chủ quyền của Việt Nam đối với thềm lục địa của mình, được xác định theo đúng quy định của luật pháp quốc tế, Công ước năm 1982 của LHQ về Luật biển, là rõ ràng và không phụ thuộc vào bất cứ cố gắng chiếm hữu thực sự hay danh nghĩa nào hoặc bất cứ tuyên bố nào.

Sự thật hiển nhiên là khu vực các bãi ngầm Tư Chính là thuộc thềm lục địa Việt Nam. Việc ký kết hợp đồng thăm dò khai thác tài nguyên cũng như tiến hành thăm dò khai thác tài nguyên ở khu vực này mà không có sự đồng ý của Việt Nam là vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế và quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam. Chính phủ ta đã nêu rõ lập trường của Việt Nam và yêu cầu phải hủy bỏ hợp đồng này; không ai được tiến hành các hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên trái phép trên thềm lục địa Việt Nam.

  • Tuần Việt Nam (trích đăng)

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu