Hoạch định ranh giới biển giữa VN và TQ (kỳ 2)

(TuanVietNam) -Phần trích đăng sau đây từ cuốn “Giới thiệu một số vấn đề cơ bản của luật biển ở Việt Nam” nhằm giới thiệu sơ lược đến bạn đọc về Hiệp định hợp tác nghề cá giữa Việt Nam và Trung Quốc, mà nội dung cốt lõi là thành lập một vùng đánh cá chung giữa hai nước.

Tên sách: GIỚI THIỆU MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA LUẬT BIỂN Ở VIỆT NAM
Tác giả: tập thể tác giả
Phát hành: Bộ Ngoại giao, Ban Biên giới, NXB Chính trị Quốc gia, 2004\
* * *

TÌNH HÌNH VÀ KẾT QUẢ ĐÀM PHÁN VỀ HIỆP ĐỊNH HỢP TÁC NGHỀ CÁ Ở VỊNH BẮC BỘ GIỮA VN VÀ TQ

1. Sự cần thiết và ý nghĩa của việc ký Hiệp định hợp tác nghề cá ở vịnh Bắc Bộ

Vịnh Bắc Bộ có nguồn lợi hải sản phong phú. Vào các năm 1957, 1961 và 1963, hai nước Việt Nam – Trung Quốc đã ký các thỏa thuận cho phép thuyền buồm của hai bên được đánh bắt trong vịnh ngoài phạm vi 3 hải lý, 6 hải lý và 12 hải lý tính từ bờ biển và hải đảo mỗi bên. Các thỏa thuận này đã hết hiệu lực vào đầu những năm 70. Trong quá trình đàm phán về hoạch định vịnh Bắc Bộ, phía Trung Quốc kiên trì đề nghị dàn xếp nghề cá bằng việc lập Vùng đánh cá chung, đồng thời với việc phân định vịnh Bắc Bộ và nhấn mạnh việc gắn thỏa thuận này với vấn đề hoạch định vịnh Bắc Bộ.

Việt Nam chủ trương tách vấn đề nghề cá ra khỏi vấn đề hoạch định vịnh; mặt khác, cũng nhận thức rõ nhu cầu khách quan cần giải quyết vấn đề nghề cá với tư cách là một vấn đề kinh tế - kỹ thuật và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vấn đề hoạch định vịnh Bắc Bộ.

Trong bối cảnh năng lực đánh bắt hiện nay của hai bên thì việc chấp nhận Vùng đánh cá chung là sự thể hiện thái độ thiện chí, tích cực, có nguyên tắc, phù hợp với thông lệ và luật pháp quốc tế và của ta.

Việc lập Vùng đánh cá chung cũng đang được áp dụng trong một số trường hợp trên thế giới. Các quy định trong Hiệp định hợp tác nghề cá giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng hoàn toàn nằm trong khuôn khổ của Công ước của LHQ về Luật biển năm 1982.

Việc ký Hiệp định hợp tác nghề cá ở vịnh Bắc Bộ sẽ tạo cơ sở để mở ra hợp tác nghề cá toàn diện với Trung Quốc cũng như tăng cường, mở rộng các hình thức hợp tác nghề cá với các nước khác.

2. Kết quả đàm phán về Hiệp định hợp tác nghề cá ở vịnh Bắc Bộ

Qua sáu vòng đàm phán cấp chuyên viên về nghề cá, qua thương lượng, hai bên đã nhất trí hợp tác nghề cá trong vịnh Bắc Bộ bằng việc thiết lập một Vùng đánh cá chung với phạm vi hợp lý và cơ chế quản lý thích hợp:

+ Phạm vi Vùng đánh cá chung trong vịnh Bắc Bộ từ vĩ tuyến 20 độ Bắc xuống đường đóng cửa Vịnh, bề rộng là 30,5 hải lý kể từ đường phân định về mỗi phía; có tổng diện tích là 33.500 km2, tức là khoảng 27,9% diện tích Vịnh. Như vậy, bảo đảm cách bờ của mỗi nước là 30 hải lý; đại bộ phân cách bờ của ta 35-39 hải lý, chỉ có hai điểm cách bờ 28 hải lý là ở Mũi Ròn và Mũi Độc (Hà Tĩnh – Quảng Bình). Thời hạn của Vùng đánh cá chung là 15 năm (12 năm chính thức và 3 năm gia hạn).

+ Cơ chế quản lý hoạt động Vùng đánh cá chung bảo đảm ba nguyên tắc lớn là: vùng đặc quyền kinh tế của nước nào thì nước đó có quyền kiểm tra, kiểm soát và xử lý các tàu cá được phép vào vùng đánh cá chung; sản lượng và số lượng tàu thuyền được phép vào vùng đánh cá chung là dựa trên nguyên tắc bình đẳng, căn cứ vào sản lượng được phép đánh bắt, được xác định thông qua điều tra định kỳ; mỗi bên đều có quyền liên doanh hợp tác đánh cá với bên thứ ba trong vùng đặc quyền kinh tế của mình. Hai bên thỏa thuận lập Ủy ban Liên hợp nghề cá để xây dựng quy chế và thực hiện việc quản lý Vùng đánh cá chung.

Ngoài Vùng đánh cá chung ra, hai bên thỏa thuận về dàn xếp quá độ với thời hạn bốn năm ở vùng biển phía Bắc vĩ tuyến 20 độ cho tàu thuyền của hai bên tiếp tục đánh bắt. Phạm vi cụ thể của vùng này hai bên sẽ tiếp tục thảo luận. Sau thời hạn quá độ thì tàu thuyền của các bên về đánh cá ở vùng đặc quyền kinh tế của mình, không được đánh cá ở vùng đặc quyền kinh tế của bên kia nữa, trừ khi được bên kia cho phép.

Đồng thời, hai bên cũng thỏa thuận lập một vùng đệm nhỏ ở ngoài cửa sông Bắc Luân với mục đích là tạo thuận lợi cho việc ra, vào của tàu cá nhỏ (nếu phát hiện các tàu cá đó đánh cá thì cảnh cáo và buộc rời khỏi vùng nước của mình). Vùng này dài 10 hải lý và rộng 3 hải lý tính từ đường phân định về mỗi bên.

NỘI DUNG HIỆP ĐỊNH HỢP TÁC NGHỀ CÁ Ở VỊNH BẮC BỘ GIỮA VN VÀ TQ

Hiệp định hợp tác nghề cá ở vịnh Bắc Bộ giữa Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” ký ngày 25-12-2000 tại Bắc Kinh, gồm có mở đầu, bảy phần, 22 điều và một phụ lục.

Phần mở đầu: Nêu mục đích và nguyên tắc chỉ đạo việc hợp tác nghề cá ở vịnh Bắc Bộ là hợp tác bình đẳng cùng có lợi, nhằm bảo tồn và khai thác bền vững tài nguyên sinh vật biển, tăng cường hợp tác nghề cá giữa hai nước trong vịnh Bắc Bộ, giữ gìn và phát triển mối quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống giữa hai nước, tôn trọng Công ước của LHQ về Luật biển năm 1982 và Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ.

Phần I: Các quy định chung (2 điều):

- Điều 1 quy định “Phạm vi áp dụng của Hiệp định” là một phần vùng đặc quyền kinh tế của hai nước trong vịnh Bắc Bộ, bao gồm: Vùng đánh cá chung, Vùng dàn xếp quá độ (vùng nước quá độ) và vùng đệm cho tàu cá nhỏ ở phía ngoài cửa sông Bắc Luân.

- Điều 2 quy định “Nguyên tắc chung” khẳng định sự hợp tác nghề cá trên cơ sở tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của nhau; không ảnh hưởng đến chủ quyền lãnh hải của mỗi nước và các quyền lợi khác thuộc vùng đặc quyền kinh tế của mỗi nước.

Phần II: Vùng đánh cá chung: gồm 8 điều, từ Điều 3 đến Điều 10, quy định:

- Phạm vi vùng đánh cá chung (Điều 3): Là vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế của mỗi nước, nằm về phía Bắc của đường đóng cửa vịnh Bắc Bộ, về phía Nam của vĩ tuyến 20 độ Bắc và cách đường phân định vịnh Bắc Bộ 30,5 hải lý về mỗi phía.

Phạm vi cụ thể của Vùng đánh cá chung là vùng nước nằm trong các đoạn đường thẳng tuần tự nối liền 16 điểm có vĩ độ và kinh độ đã được xác định trên Tổng đồ toàn diện vịnh Bắc Bộ đính kèm theo Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ.

- Quy mô đánh bắt (Điều 6): Hai bên giao quyền cho Ủy ban Liên hợp nghề cá vịnh Bắc Bộ Việt – Trung xác định số lượng tàu cá hàng năm của mỗi bên vào hoạt động đánh bắt trong vùng đánh cá chung trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, phù hợp tình trạng nguồn lợi thủy sản và các yếu tố hữu quan khác.

- Cơ chế quản lý (Điều 9): Cơ quan thẩm quyền mỗi bên có quyền kiểm tra, kiểm soát và xử lý đối với công dân, tàu cá bên kia hoạt động ở Vùng đánh cá chung thuộc phần biển bên mình. Việc xử lý các vi phạm sẽ căn cứ vào quy định của Ủy ban Liên hợp nghề cá hoặc luật pháp của nước mình tùy từng trường hợp cụ thể.

- Tàu đánh cá nước thứ ba (Điều 10): Mỗi bên có quyền cho phép tàu thuyền nước khác vào hoạt động nghề cá trong Vùng đánh cá chung thuộc vùng nước của bên mình bằng bất kỳ hình thức hợp tác, liên doanh nào trong khuôn khổ quy mô đánh bắt của bên mình. Tàu thuyền đó phải treo cờ của bên cấp phép và phải tuân theo các quy định khác của Ủy ban Liên hợp nghề cá.

- Việc cấp phép đánh bắt (Điều 7) cho tàu cá hoạt động trong Vùng đánh cá chung do mỗi bên thực hiện đối với tàu cá bên mình.

(Nguồn ảnh: vnphoto.net)


Phần III: Dàn xếp quá độ (1 điều)

Điều 11 quy định vùng nước quá độ nằm về phía Bắc Vùng đánh cá chung (từ vĩ tuyến 20 độ Nam trở lên). Cho phép tàu cá mỗi bên được hoạt động trong vùng nước quá độ trong vòng bốn năm kể từ khi hiệp định có hiệu lực. Sau bốn năm, mỗi bên quản lý vùng biển của mình theo chế độ vùng đặc quyền kinh tế riêng.

Phạm vi cụ thể vùng nước dàn xếp quá độ và biện pháp quản lý của việc dàn xếp quá độ sẽ do hai bên thỏa thuận quy định trong nghị định thư bổ sung.

Phần IV: Vùng đệm cho tàu cá nhỏ (1 điều)

Điều 12 quy định việc thiết lập một vùng đệm cho tàu cá nhỏ của hai bên qua lại ở khu vực phía ngoài cửa sông Bắc Luân với phạm vi chiều dài 10 hải lý tính từ điểm đầu tiên của đường phân định kéo về phía Nam, chiều rộng lùi về mỗi phía 3 hải lý tính từ đường phân định, phạm vi cụ thể được tạo bởi các đoạn thẳng tuần tự nối 7 điểm có vĩ độ và kinh độ đã xác định.

Tàu cá của phía bên kia chỉ được qua lại phần nước của bên này trong vùng đệm chứ không được đánh cá ở đó. Nếu phát hiện tàu cá của phía bên kia đánh cá trong vùng nước của mình thì cảnh cáo và áp dụng các biện pháp cần thiết để buộc tàu rời khỏi vùng nước đó, nhưng kiềm chế không bắt bớ, giam giữ, xử phạt hoặc dùng vũ lực. Nếu xảy ra những tranh chấp khác ngoài lĩnh vực hoạt động nghề cá thì các cơ quan có thẩm quyền liên quan của mỗi nước giải quyết theo luật pháp của nước mình.

Phần V: Ủy ban Liên hợp nghề cá vịnh Bắc Bộ Việt – Trung (1 điều)

Điều 13 quy định việc thành lập, thành phần và chức trách của Ủy ban Liên hợp nghề cá. Ủy ban này giúp Chính phủ tổ chức thực thi Hiệp định hợp tác nghề cá khi hiệp định có hiệu lực. Ủy ban Liên hợp nghề cá gồm mỗi bên có một đại diện do Chính phủ bổ nhiệm và một số ủy viên.

Phần VI: Những điều khoản khác (4 điều)

Các điều 14, 15, 16 và 17 quy định về việc đảm bảo an toàn hàng hải; cứu hộ, cứu nạn; quyền đi qua không gây hại; hợp tác nghiên cứu khoa học trong vùng nước hiệp định.

Phần VII: Các điều khoản cuối cùng (5 điều)

Điều 18 đến Điều 22 quy định: việc giải quyết tranh chấp; các phụ lục, Nghị định thư bổ sung của Hiệp định; việc bổ sung, sửa đổi hiệp định; về bản đồ; thời hạn hiệu lực của hiệp định.

Phụ lục của hiệp định: Quy định về tránh nạn khẩn cấp đối với tàu cá của các bên hoạt động trong vịnh khi gặp nạn hoặc tình hình khẩn cấp khác.

Kỳ sau: Khu vực thềm lục địa Tư Chính của Việt Nam

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu