Gs Porter đề xuất thành lập Viện Năng lực Cạnh tranh VN
Để tránh hiện tượng “tất cả cùng chạy” hay “tất cả cùng chờ”, đó chính là chức năng của Viện Năng lực Cạnh tranh, một chức năng mà GS. Porter gọi là kết hợp cạnh tranh với hợp tác.
>> Từ PCI nhìn về chỉ số môi trường kinh doanh quốc gia
>> TƯ cần tạo khoảng trống cho chính quyền tỉnh đột phá
![]() |
| Sự trân trọng của GS. Porter dành cho Việt Nam lại chuyển thành điều bất ngờ. |
Từ trân trọng chuyển thành bất ngờ
Sự trân trọng của 700 người tham dự hội thảo với GS. Michael Porter ngày 1/12 đã không chỉ biểu hiện ở cách tất cả cùng đứng lên vỗ tay khi ông bước vào hội trường. Sự trân trọng này biểu hiện ở việc hội trường dành cho hơn 700 người đã không còn một ghế trống, một vài người đến muộn đã phải đứng chờ để được xếp thêm ghế. Đến cuối giờ chiều, vẫn không có một ghế trống trong hội trường, một điều hiếm thấy đối với các hội thảo ở Việt Nam.
Sự trân trọng của GS. Porter dành cho Việt Nam lại chuyển thành điều bất ngờ. Đó không chỉ là suốt hơn 5 giờ, vị giáo sư 62 tuổi liên tục đi đi lại lại trên bục và sang sảng diễn thuyết. Đó là bất ngờ của cả hội trường trước sự hiểu biết về Việt Nam của một người lần đầu đến Việt Nam. Hơn thế nữa, sự trân trọng của ông dành cho Việt Nam chính là thái độ rất thẳng thắn trước những yếu kém của Việt Nam.
Có lẽ cũng vì những nội dung quá thẳng thắn mà hơn một lần ông phải “rào đón” trước: ông chỉ là nhà kinh tế, không bàn chuyện chính trị.
Nhưng các con số ông đưa ra trên màn hình thì rất thuyết phục mà không cần rào đón: theo bảng xếp hạng tham nhũng của quốc tế, Việt Nam ở vị trí thấp cao so với thế giới và có xu hướng ngày càng xấu đi.
Về nhóm các chỉ số quản trị quốc gia, Việt Nam được đánh giá trên trung bình về chỉ số ổn định chính trị, nhưng toàn bộ 5 chỉ số còn lại đều dưới trung bình: minh bạch, hiệu quả của Chính phủ, chất lượng của các quy định, pháp quyền, và kiểm soát tham nhũng. Trong đó, hai yếu tố được coi là đặc biệt thấp: minh bạch và kiểm soát tham nhũng.
Năng lực cạnh tranh của Việt Nam ở vị trí dưới trung bình so với thế giới và cũng trong xu hướng giảm.
Một đề xuất độc đáo: Viện Năng lực Cạnh tranh Việt Nam
Tháng 11/2007, tại Singapore đã khai trương Viện Năng lực Cạnh tranh Châu Á với chính GS. Porter là Chủ tịch Hội đồng Tư vấn Quốc tế. Cũng chính GS. Porter mang đến Việt Nam một đề xuất khá độc đáo: Thành lập Viện Năng lực Cạnh tranh Việt Nam.
Trong mấy năm qua, Việt Nam bị xếp hạng năng lực cạnh tranh thấp và liên tục tụt hạng. Nhưng cũng trong mấy năm qua, Việt Nam được coi là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng GDP nhanh. Vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam liên tục tăng cao. Vậy chúng ta có cần phải quan tâm trăn trở với khái niệm năng lực cạnh tranh? Có cần phải làm gì không? Và nếu cần thì làm như thế nào?
Dường như chúng ta hàng năm vẫn nhìn thấy năng lực cạnh tranh của nền kinh tế bị tụt hạng, với những phân tích nguyên nhân này hay nguyên nhân kia. Nhưng dường như ai cũng thấy đó là điều đã biết. Và lại bị lãng quên sau vài ngày khi mỗi người bị cuốn vào những công việc khác. Và để sang năm điều đó lại lặp lại.
Trong Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, nhiều năm qua đã có một trung tâm nghiên cứu năng lực cạnh tranh. Nhưng mỗi năm, đối tác hợp tác với Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) để thực hiện báo cáo về năng lực cạnh tranh thì lại không phải trung tâm này, mà là Viện Quản lý Kinh tế Trung ương và Viện Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.
Một trong các chức năng của Viện Năng lực Cạnh tranh do GS. Porter đề xuất chính là hàng ngày hàng giờ chăm lo cho năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Hơn thế nữa, GS. Porter đề xuất Viện cũng nghiên cứu phát triển năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Đây có thể là điểm độc đáo của một Viện nghiên cứu ở Việt Nam, khi mà khái niệm PCI còn khá hiếm hoi trên thế giới.
Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh có trở thành nỗi ám ảnh?
Khái niệm PCI xuất hiện lần đầu năm 2005 tại Việt Nam, tiếp tục được công bố vào các năm 2006, 2007, 2008, và đã gây khá nhiều xôn xao trong dư luận ngay từ lần công bố đầu tiên.
Các tỉnh có PCI cao chưa hẳn đã là các tỉnh giàu hay thu hút nhiều đầu tư, và ngược lại. Ví dụ, Lào Cai hay Bến Tre là những tỉnh xếp hạng cao. Hoặc chỉ từ năm 2005 sang năm 2006, Hà Nội tụt hạng từ 14 xuống 40 và Hải Phòng từ 19 xuống 42…
![]() |
|
Ảnh: Nguoivienxu |
Nhìn kỹ vào các tiêu chí đánh giá, sẽ thấy PCI mấy năm qua chủ yếu đánh giá tác động của bộ máy quản lý nhà nước cấp tỉnh đến môi trường kinh doanh, trong khi đây chỉ là một trong các yêu tố cấu thành năng lực cạnh tranh. Đến giữa tháng 12 này, chỉ số PCI 2008 lại được công bố. Một tiết lộ: chỉ số lần này sẽ có thêm yếu tố cơ sở hạ tầng.
Trong đánh giá năng lực cạnh tranh của quốc gia, hai nhóm yếu tố của Việt Nam bị đánh giá thấp là “cơ sở hạ tầng” và “đào tạo và giáo dục đại học”. Tuy nhiên, chính hai nhóm này khi áp vào cấp tỉnh sẽ có nguy cơ làm cho PCI tiến gần nhất đến với điều mà Giáo sư Paul Krugman gọi là “nỗi ám ảnh nguy hiểm về năng lực cạnh tranh.”
Nếu tất cả các tỉnh cùng làm
Với một quốc gia, hệ thống giáo dục đại học và dạy nghề tốt chắc chắn là lợi thế về năng lực cạnh tranh. Nhưng với cấp tỉnh, điều này lại không chắc chắn. Hoàn toàn không thể ngăn cản học sinh của các tỉnh như Đồng Tháp hay Kiên Giang vào học ở Đại học An Giang, hoặc thu hút những người giỏi sau khi tốt nghiệp Đại học An Giang.
Thậm chí những nỗ lực của địa phương để “sinh non” các trường đại học khi chưa đủ điều kiện, tưởng như để cải thiện năng lực cạnh tranh, lại có thể phản tác dụng. Số lượng bằng cấp được “sản xuất” ở địa phương tăng lên, nhưng thực ra chất lượng giáo dục giảm xuống.
Tương tự là cơ sở hạ tầng. Liệu khi đưa yếu tố hạ tầng vào PCI, có phát sinh một cuộc chạy đua quyết liệt, để mỗi tỉnh phải có một cảng nước sâu và một sân bay quốc tế?
Tỉnh Bình Dương không có sân bay quốc tế hay cảng nước sâu, nhưng người Bình Dương vẫn coi sân bay Tân Sơn Nhất và cảng Cát Lái ở TP. HCM là “của mình”. Không quy định nào có thể ngăn cản Bình Dương sử dụng những hạ tầng này. Cũng không có quy định nào buộc người Bình Dương phải trả lệ phí sân bay cao hơn người ở Bình Chánh (TP. HCM), trừ khi xuất hiện lại hiện tượng ngăn sông cấm chợ hay bảo hộ cấp tỉnh.
Còn các tỉnh đang cố gắng chạy đua xây cảng nước sâu, sớm hay muộn cũng nhận ra một điều: năng lực cạnh tranh tốt khi doanh nghiệp được sử dụng cảng nước sâu với chi phí thấp nhất, bất kể cảng đó thuộc chủ quyền của tỉnh nào. Càng nhiều cảng phân tán, lượng hàng càng bị chia sẻ manh mún, hiệu quả khai thác cảng càng giảm, và chi phí tất yếu tăng lên.
Nếu tất cả các tỉnh cùng chờ
Một câu hỏi khác: liệu có thể xảy ra tình trạng các tỉnh không làm đại học, không làm hạ tầng, chỉ ngồi chờ để ăn theo tỉnh láng giềng?
Ít nhất thì điều này đến nay vẫn không xảy ra, cả trên lý thuyết cũng như trên thực tế. Với những dự án nhỏ, các doanh nghiệp tư nhân năng động sẽ biết khi nào thực sự có nhu cầu để họ đầu tư. Với những dự án lớn, bất kể có nhu cầu cao hay thấp thì vẫn có nhiều doanh nghiệp lớn hăng hái đầu tư, vì lý do này hay lý do khác.
Để tránh hiện tượng “tất cả cùng chạy” hay “tất cả cùng chờ”, đó chính là chức năng của Viện Năng lực Cạnh tranh, một chức năng mà GS. Porter gọi là kết hợp cạnh tranh với hợp tác.
Có lẽ đây cũng là một chức năng khó, vì cạnh tranh thì dễ thấy, nhưng một cơ chế để hợp tác thì hoàn toàn không dễ.
-
Bùi Văn

