Giảm bớt gánh nặng lý thuyết về đạo đức trong trường
Thực tế, bài giảng GDCD hiện nay đang đơn thuần đưa ra những khái niệm và rao giảng đạo đức bằng lý thuyết suông. Trong khi học sinh cần những giờ thảo luận thực tế.
Giờ học đạo đức là giờ.. xả hơi
Môn đạo đức (ở cấp PTTH là môn Giáo dục công dân - GDCD) trong nhà trường chỉ được học sinh, phụ huynh, thậm chí cả giáo viên coi là môn phụ, mỗi tuần một tiết.
Đến tiết, học sinh rất uể oải và chỉ tìm cách học chống đối, thậm chí tự ý nghỉ tiết. Với học sinh đó là giờ “xả hơi”, đặc biệt là học sinh lớp 12, khi bận rộn bài vở để ôn thi tốt nghiệp thì chuyện học GDCD được coi là một việc làm “xa xỉ”. Còn với giáo viên đó là giờ ngậm ngùi khi biết rằng giảng nhưng sẽ chẳng có ai nghe.
Thực tế, bài giảng GDCD đơn thuần đưa ra những khái niệm và rao giảng đạo đức bằng lý thuyết suông, tác động một chiều và buộc học sinh thụ động tiếp nhận. Cuốn SGK đạo đức bậc tiểu học đưa ra khái niệm, vài ví dụ rồi đúc rút thành phần ghi nhớ với những câu chữ khô khan. Và học sinh phải học thuộc lòng mà chẳng cần biết ghi nhớ nói về vấn đề gì.
Học sinh lớp 7 đã phải học về bộ máy nhà nước cấp cơ sở, lớp 8 học về quyền sở hữu tài sản, lớp 9 học về quyền tự do kinh doanh và nghĩa vụ đóng thuế, quyền và nghĩa vụ công dân trong hôn nhân… với đầy những từ ngữ khô khan, khó hiểu và chưa cần thiết với lứa tuổi các em.
![]() |
|
Ảnh: VietNamNet |
Hầu hết chương trình GDCD lớp 10, 11 và 12 rất hàn lâm với các kiến thức về triết học, chủ nghĩa xã hội khoa học, luật học, kinh tế học, chính trị học… Phần đạo đức có được nói đến một chút trong bài giảng lớp 10 thì cuốn sách Tình huống GDCD lớp 10 lại có quá nhiều lỗi sai sót (như báo TT & VH đã nêu).
Chương trình SGK GDCD lớp 11 dành quá nhiều bài cho việc giải thích mối quan hệ của công dân với kinh tế. Trong khi kiến thức đó chúng ta có thể học trong quá trình học lên cao sau này.
Hiện nay, ở nhiều trường THCS và THPT, một số giáo viên dạy môn GDCD không phải là người được đào tạo theo chuyên ngành giảng dạy môn này. Có thể là giáo viên dạy sửhay ngoại ngữ kiêm luôn môn GDCD. Phương pháp giảng dạy vẫn là đọc chép và học thuộc lòng, kỹ năng hành xử rất hời hợt. Mối quan hệ thầy trò nhợt nhạt khiến học sinh ít có cơ hội chia sẻ với thầy cô giáo những tình huống trong cuộc sống của mình.
Sự cắt giảm đến mức tối thiểu môn học hữu ích này để đưa ôm đồm những kiến thức của môn học khác đã khiến học sinh không hiểu hết được giá trị của môn học. Và do đó học sinh phải học rất nhiều, học đến mức quá tải những vẫn không được giáo dục kỹ lưỡng về phần đạo đức.
Từ đầu năm 2008, báo chí đã đưa tin về hàng chục vụ án mà thủ phạm là các đối tượng còn ngồi trên ghế nhà trường.
| Biểu hiện vi phạm | Tiểu học | THCS | THPT | CĐ, ĐH |
| Tỉ lệ đi học không đúng giờ | 20% | 21% | 58% | 85% |
| Tỉ lệ quay cóp | 8% | 55% | 60% | 69% |
| Tỉ lệ nói dối cha mẹ | 22% | 50% | 64% | 83% |
| Tỉ lệ vi phạm Luật giao thông | 4% | 35% | 70% | 84% |
(số liệu mới nhất của Viện Nghiên cứu và Phát triển Giáo dục Việt Nam)(*1)
Khảo sát vài năm gần đây ở 4 trường giáo dưỡng (dành cho trẻ vị thành niên phạm pháp – thuộc Bộ Công an): Trong 3.448 em, có 145 em buôn bán, hút chích ma túy; 12 em cướp giật; 54 em cưỡng đoạt tài sản; 124 em hiếp dâm; 124 em cố ý gây thương tích; 765 em gây rối trật tự công cộng; 48 em lừa đảo; 69 em giết người; 2.112 em trộm cắp; 40 em thuộc về các hành vi phạm tội khác(*2).
Giảm gánh lý thuyết về đạo đức
Chúng ta đang dạy nhiều và học cũng nhiều mà vẫn không đến nơi đến chốn. Không phải chỉ là dạy những gì các kì thi cần mà quan trọng hơn là dạy những gì thiết thực để hình thành nên lối sống lành mạnh cho học sinh. Không phải chỉ đến khi học sinh vào trường giáo dưỡng rồi mới được học nhiều về đạo đức và lối sống.
Để khắc phục những hạn chế đó, chương trình giáo dục đạo đức ở bậc tiểu học nên đúc kết bài học trong những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ để học sinh dễ nhớ, dễ thuộc. Ngoài ra nên minh họa bài học bằng nhiều hình ảnh sinh động để cuốn hút học sinh.
![]() |
|
Ảnh: VietNamNet |
Đối với bậc trung học chỉ nên tập trung vào một số vấn đề cơ bản về đạo đức như: mối quan hệ gia đình, bạn bè, thầy trò… và quan điểm nhận thức về các trào lưu văn hóa hiện đại, từ đó hình thành cách đối nhân xứ thế và lối sống cho học sinh.
Nên cho học một tiết lý thuyết xen kẽ với các tiết trao đổi để giữa giáo viên và học sinh có sự chia sẻ, giúp học sinh giải đáp những khúc mắc đơn giản trong cuộc sống. Bởi vì hiện nay, không ít học sinh phải tìm đến bác sĩ tâm lý để tìm câu trả lời cho các vấn đề trong cuộc sống của mình.
Có thể nói GDCD là môn học đặc thù, nó đòi hỏi giáo viên phải có một năng lực và trình độ nhất định về tâm lý học, không chỉ là những kiến thức về tâm lý sư phạm một cách chung chung như giáo viên các môn khác. Chính vì thế, phương pháp tuyển chọn và đào tạo giáo viên môn GDCD cần phải thay đổi. Giáo viên giảng dạy môn này không chỉ là một giáo viên dạy về đạo đức mà còn phải được đào tạo để trở thành một "bác sĩ tâm lý” cơ bản giúp học sinh giải đáp những thắc mắc thông thường của lứa tuổi.
Hãy giáo dục đạo đức bằng những tấm gương, câu chuyện cụ thể, có thật trong cuộc sống hiện đại chứ không phải là tình huống giả dụ như trong SGK hiện nay (với anh M, chị K… nào đó và những câu chuyện do người viết sách phóng tác nên). Ví dụ, trong bài học về tình bạn, giáo viên có thể đưa câu chuyện về cậu học trò A Pyiưh, làng Klâu Ngol Zố (người dân tộc Gia Rai) đã 5 năm liền cõng, giúp đỡ A Trâm cắp sách đến trường…
Nên bỏ bớt chương trình giáo dục về các môn khoa học triết học quá nặng nề để đưa vào đó kiến thức giáo dục giới tính để phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi. Vì đã gọi là môn GDCD thì phải giáo dục toàn diện cả về thể chất và tâm hồn.
Chú giải:
(*1)(*2): Theo website Sở Giáo dục đào tạo Hà Nội www.hanoi.edu.vn
- Hà Nguyễn

