Có một Việt Nam trong "người tình" Duras
Với nữ nhà văn, nhà điện ảnh Pháp Marguerite Duras, người đã đổi mới thể loại tiểu thuyết và làm đảo lộn các quy ước của sân khấu và điện ảnh, Việt Nam luôn hiện hữu trong niềm yêu mến vô bờ. Ít nhất bà đã từng có 18 năm thơ ấu và niên thiếu gắn bó với Việt Nam.
Đất nước mà Marguerite Duras vẫn đinh ninh là quê kiểng của mình từ lúc sinh ra đến lúc cuối đời, đó là Việt Nam, là những địa danh Sài Gòn, Gia Định, Vĩnh Long, Sa Đéc, Hà Nội...
![]() |
|
M. Duras |
Có phải là thời thơ ấu tuyệt diệu của bà ở Việt Nam, khi bà cố gắng trốn khỏi nhà trẻ, đi chơi cùng các bạn Việt Nam? Thời không có từ nào được viết ra, thời bà và em trai đã sống với tiếng Việt ở trong não và trong tai. Bà đã đi săn lại tuổi thơ, đi săn lại tiếng Việt của mình.
Duras và sự lai ngôn ngữ
Mọi tác phẩm Duras đều sáng tạo bằng tiếng Pháp. Người ta không nhìn thấy các từ tiếng Việt trong văn bản của bà. Nhưng Duras nói: “Tiếng Pháp và tiếng Việt ở chung trong tác phẩm của tôi như hai cơ thể sát vào nhau dữ dội đầy nhục cảm”.
Cấu trúc và nhịp điệu, giọng điệu, cách phát âm của tiếng Việt được du nhập vào tác phẩm của bà. Chính thứ tiếng này đem lại cảm hứng cho bà, một cách dữ dội, đầy cảm xúc. Và bà đã đi xa hơn A. Camus trong cách phá bỏ cấu trúc câu.
Đọc tiếng Pháp nhưng cái hồn là tiếng Việt, với một số người Pháp, đó là sự huỷ hoại. Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm, không có hình vị, giống số của danh từ. Động từ không có ngôi, không có dấu hiệu về thời thế. Các từ xếp cạnh nhau tạo thành câu. Với người Pháp, nó lạ và mơ hồ. Một từ có thể là danh từ, động từ, tính từ... tuỳ văn cảnh.
Cú pháp tiếng Việt tồn tại độc lập, nhìn chung không cần đến một thứ xi măng để liên kết, trong khi tiếng Pháp lại rất cần. Mối liên hệ logic đó tiềm ẩn, nằm trong những khoảng trống của kiến trúc ngôn ngữ.
Duras đã cực lực phản đối những nguyên tắc về ngữ pháp. Bà chỉ quan tâm đến từ như một đơn vị đẳng lập. Bà nói: “Tôi viết một từ, nhưng viết rất nhiều lần. Bản thân từ đã là toàn bộ văn bản của tôi. Ngữ pháp là những cái quây xung quanh từ của tôi”.
![]() |
![]() |
Đằng sau ngôn từ ẩn chứa những thứ mà người ta phải đọc. Những từ đó có thể tan rã ra, nhưng những khoảng lặng phải đọc lên để cho người ta cảm nhận thấy.
Trong cách viết của Duras có sức mạnh mang tính nổi loạn để xoá bỏ. Bà nói: “Có thể một ngày nào đó sẽ có lối viết của lối viết không có lối viết. Tôi đang thử nghiệm những khoảng trắng trong chuỗi ngôn từ”.
Bà làm rất nhiệt tình để xoá bỏ hình thức phù phiếm của tiếng Pháp, theo bà là rất nghèo nàn. Bà muốn trở lại hình thức ngôn ngữ có vẻ trần trụi của tiếng Việt, nhưng thực ra là rất giàu có. Đoạn tuyệt sự gò bó khiến người ta có thể nghĩ phong phú hơn.
Tiếng Việt đặc biệt chứa đựng ở những điều người ta không nói ra. Những khoảng trống đó khiến người quen đọc văn Pháp thấy choáng váng, thì với người khác, đó là những hình ảnh.
Văn bản của bà là sự đi lại thường xuyên giữa cái viết và cái không viết. Bà đã thành công khi đưa được chất thơ của tiếng Việt vào khoảng trống, cho người đọc hưởng thụ những âm thanh: “Cái cách chấm câu cũng như đặt câu rất lộn xộn, giống như tôi đang cởi bỏ dần quần áo của các từ. Từ chỉ còn lại là một từ trần trụi, khó nhận ra. Từ chỉ còn là từ với nghĩa nguyên gốc”. Nó đẩy ngữ pháp tiếng Pháp ra ngoài.
![]() |
Trong tác phẩm “Ông phó tham lam”, chính Duras cũng so sánh cô gái ăn xin là tiếng Việt, còn ông phó là tiếng Pháp. Ngôn ngữ da trắng giàu có, có đủ mọi thứ sẽ không bao giờ gặp ngôn ngữ da vàng sống trong cực khổ: “Ông là một người rất giàu, có tất cả để trang trí trên người. Còn cô gái ăn xin thì rất nghèo... chẳng có gì trên người... Cả hai đều có những bất hạnh của mình. Họ sẽ không bao giờ gặp được nhau trên cùng một chỗ được”.
Họ đã gặp nhau trong tác phẩm của Duras, điều chưa thấy bao giờ, là một trải nghiệm đau đớn đối với bà. Nhiều người đã phản đối cách viết của bà. Ở Pháp, người ta gọi đó là ngôn ngữ Duras, cấu trúc của ngôn ngữ tiếng Việt trong văn Pháp.
Bản thân Duras cũng luôn bị ám ảnh bởi ý tưởng có một nơi nào đó là cội nguồn cho lối viết của bà. Nơi hoang sơ, xa thẳm nào đó. Những cánh đồng mênh mông của đồng bằng sông Cửu Long, vùng đất của con người khác, con người không bao giờ nói ra.
Trong văn chương, bà vẫn nhắc đến mùi hương thơm đặc trưng của buổi sáng Sài Gòn, những phong cách sinh hoạt của khi phố Tàu ở Chợ Lớn, đến những đại lộ thênh thang rợp bóng mát của hàng me cổ thụ, với những ngôi biệt thự đỏ rực hoa sau hàng rào.
Và, có cả những tà áo trắng mà bà cho là khêu gợi một cách thơ mộng và thánh thiện của thiếu nữ Sài Gòn. Qua các các phẩm, tràn đầy một không khí lãng mạn của những nơi chốn đã in hằn thành nếp trong tâm thức.
Nỗi đau của “Người tình”
“Một hôm, khi tôi đã có tuổi, trong tiền sảnh một toà nhà công cộng, một người đàn ông tiến về phía tôi. Ông ta tự giới thiệu và nói: “Tôi biết bà từ rất lâu rồi. Mọi người đều nói trước kia bà rất đẹp, tôi đến để nói với bà rằng với tôi giờ đây bà đẹp hơn, tôi không thích gương mặt thiếu nữ của bà bằng gương mặt bà đang có, gương mặt bị tàn phá” (Người tình)
![]() |
Suốt đời Duras sống trong hồi ức. Khi ấy, mọi thứ của quá khứ đều sống động như nước chảy trong dòng sông. Bà viết trong “Người tình”: “Rất nhanh trong đời tôi đã là quá muộn. 18 tuổi đã là quá muộn... 18 tuổi tôi đã già”.
Trong suốt 20 năm liền từ khi bắt đầu sáng tác văn học (năm 1943), bà không được coi là nhà văn, và mỗi tác phẩm chỉ được in vài trăm bản. Thế nhưng, chưa bao giờ Duras ngừng sáng tác. Ngày nào bà cũng viết 4-5 giờ đồng hồ.
Mãi 40 năm sau, khi cuốn “Người tình” nhận giải Goncourrt, là một bestseller quốc tế, đã bán trên 2,4 triệu bản, được dịch ở 36 quốc gia, bà mới trở thành một trong những gương mặt quan trọng nhất của văn chương Pháp.
“Cần phải đọc những đoạn hay nhất trong “Người tình” cho cao giọng. Ta sẽ cảm nhận được tốt hơn nhịp điệu, sự nhấn nhá, cái hơi thở thầm kín của văn xuôi, những bí mật tinh tế của nhà văn.
Ngay từ những dòng đầu tiên của truyện đã rạng ngời nghệ thuật và tài khéo của Duras, sự tự do của bà, sự thách thức của bà, những cuộc chinh phục suốt 30 năm để đạt đến việc viết được cái ngôn ngữ dịu nhẹ, trung tính, gấp gáp và cả ám ảnh này nữa, cái ngôn ngữ có khả năng nắm bắt tất cả các sắc thái, và đuổi kịp tốc độ chính xác của suy nghĩ và hình ảnh. Một chủ nghĩa hiện thực cực điểm...” (lời Francois Nourissier, nhà báo kiêm nhà văn, thành viên ban giám khảo giải Goncourt)
![]() |
![]() |
Duras, như chính bà vẫn thế, bốc đồng, phiêu lưu và có một quá khứ tình cảm nhiều đổ vỡ. Khi 61 tuổi, bà lại có một mối tình đầy giông bão với một cậu sinh viên vừa mới 22. Mối tình ấy làm cả Paris đàm tiếu và dằn vặt bà, kéo dài tới mười sáu năm, và đẹp một cách kỳ quái.
Duras mất năm 1996. Trên ngôi mộ của bà, nơi nghĩa trang Montparnasse ở Paris, có một tấm bia xám, nghiêm trang khắc hai đoá hoa và hai chữ viết tắt M.D. của tên tuổi Marguerite Duras, với hai hình ảnh khắc hoạ chân dung của hai thời kì.
Một của cô bé ngây thơ đầy khêu gợi, đội một chiếc mũ đỏm dáng, với đôi môi tô son đỏ thẫm trên chuyến phà bắc ngang qua sông Cửu Long; và một của thiếu phụ mặc bộ trang phục thanh nhã, với khuôn mặt và thân thể bị tàn phá ghê gớm bởi rượu và những hồi ức ám ảnh...
-
Đinh Phương Linh






