Cơ hội có thật nào cho Việt Nam trong khủng hoảng?
(TuanVietNam) - Có những cơ hội được nói đến trong khủng hoảng mà nếu cố tình tóm bắt sẽ trở thành thảm họa cho nền kinh tế. Cơ hội có thật chính là tự cải cách, đổi mới mình. Nếu không làm đúng, vin vào lí do khủng hoảng để có những chính sách bất hợp lý cũng là thảm họa - Ts. Phan Minh Ngọc nói.
Cơ hội liệu có thật?
Đã có nhiều bài viết và phát biểu của các quan chức và chuyên gia về cơ hội của Việt Nam trong khủng hoảng, kể từ thời điểm có những số liệu thống kê cho thấy: cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã thực sự đặt dấu ấn lên nền kinh tế Việt Nam.
Những số liệu đó đã đặt hồi kết cho luồng ý kiến vô căn cứ của một số người cho rằng Việt Nam không chịu ảnh hưởng nhiều từ cuộc khủng hoảng kinh tế.
Tuy nhiên, không khó để thấy rằng nhiều trong số những cái gọi là “cơ hội” mà những nhân vật này đưa ra thực ra chẳng phải là cơ hội. Đôi khi, việc cố tình tóm bắt những “cơ hội” đó lại trở thành thảm họa cho nền kinh tế.
Đầu tư nâng cấp dây chuyền sản xuất
“Cơ hội” tiêu biểu nhất được nhiều người nêu ra có lẽ là chuyện giá cả hàng hóa, nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị và phương tiện sản xuất kinh doanh đã sụt giảm đáng kể, và đây được coi là dịp may hiếm có để các nhà sản xuất kinh doanh Việt Nam mua vào để nâng cấp và mở rộng năng lực sản xuất kinh doanh của mình (chuyện mà mới chỉ một vài tháng trước còn là điều trong mơ).
Với lập luận rất có tính thuyết phục này hết Vinalines đến Hiệp hội dệt may đều kiến nghị Chính phủ hỗ trợ tín dụng để nhập dây chuyền máy móc và phương tiện.
Ít nhất có hai điều mà những người đưa ra “cơ hội” này đã không tính đến. Đó là đầu ra cho sản phẩm của họ. Đó là chi phí và khả năng thu xếp các khoản tín dụng ngoại tệ để nhập khẩu máy móc và phương tiện.
![]() |
|
Nhập dây chuyền máy móc và phương tiện đang được nhiều DN xem là cơ hội trong khủng hoảng. Ảnh: baohaiphong.com.vn |
Nói cách khác, để được coi là cơ hội thì các nhà sản xuất kinh doanh Việt Nam phải tìm được thị trường tiêu thụ cho khối lượng sản phẩm gia tăng từ việc mở rộng năng lực sản xuất kinh doanh, còn nguồn vốn tín dụng phải có lãi suất tương đối thấp và điều kiện cho vay tương đối dễ dãi.
Trong hoàn cảnh hiện nay, dễ thấy điều kiện đầu tiên đã bị vi phạm nặng nề, khi xét đến tổng cầu hàng hóa và dịch vụ đã suy giảm không chỉ trên thế giới mà ngay cả trong nước. Với bối cảnh như vậy, việc sử dụng hết năng lực sản xuất kinh doanh hiện có đã là một thành công ngoạn mục đối với hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam.
Bởi thế, đầu tư vào máy móc, phương tiện và hạ tầng cơ sở rồi đắp chiếu để đấy, chờ đợi vô vọng cho cầu phục hồi và gia tăng trong khi vẫn phải trả các chi phí liên quan hẳn nhiên không phải là một quyết định mang tính kinh tế.
Ví như Vinalines, đầu tư vay vốn mua thêm tầu để gia tăng năng lực vận chuyển với giá mua rẻ đi vài chục phần trăm thoạt nghe có vẻ là một quyết định rất khôn ngoan. Thế nhưng người ta sẽ phải giật mình khi biết rằng mới gần đây đã có những hãng tầu trên thế giới phải chấp nhận hạ giá vận chuyển hàng hóa xuống còn 0 (và chỉ tính phụ phí nhiên liệu và một số phí lặt vặt khác).
|
Đầu tư vào nâng cấp máy móc để tăng năng lực vận chuyển có phải là |
Thêm nữa, hiện chẳng một chuyên gia nào dám chắc rằng cuộc khủng hoảng sẽ chấm dứt nay mai và mọi việc sẽ trở lại bình thường (cầu sẽ phục hồi) trong một tương lai gần để cho những doanh nghiệp “đi tắt đón đầu” như Vinalines gặt hái lợi nhuận. Việc mua tầu rồi để chấp nhận một mức giá vận chuyển thấp đến mức phi lý hoặc không thì phải để han gỉ ở các bến bãi trong một thời gian bất định đâu có khác gì một thảm họa kinh tế?
Tiếp cận tín dụng
Về nguồn tín dụng, không phải ngẫu nhiên mà những đề xuất kiểu như trên thường được đưa ra bởi các doanh nghiệp nhà nước, và yêu cầu Chính phủ thu xếp các khoản tín dụng với các điều khoản ưu đãi.
Bản thân những doanh nghiệp này biết rõ rằng việc tự tiếp cận được với các nguồn tín dụng ngoại tệ hiện nay không hề dễ dàng chút nào và với giá không hề rẻ chút nào như dư luận vẫn lầm tưởng khi thấy các ngân hàng trung ương trên thế giới đua nhau hạ lãi suất cơ bản.
Trong bối cảnh suy thoái toàn cầu với nhiều bất trắc và rủi ro đổ vỡ, các tổ chức tín dụng nước ngoài đều ra sức áp dụng chiến lược kinh doanh thận trọng, phòng ngừa rủi ro, co hẹp tín dụng hoặc xét nét hơn khi cho vay, và với lãi suất cao.
Như một cái vòng luẩn quẩn, suy thoái kinh tế làm sụt giảm tổng cầu và tăng nợ xấu dẫn đến thắt chặt tín dụng, rốt cuộc càng làm cho suy thoái kinh tế càng trầm trọng hơn.
Tất nhiên, Chính phủ có thể đứng ra bảo lãnh các khoản vay này. Nhưng như vậy, mọi rủi ro bất trắc của thị trường, của doanh nghiệp sẽ chất hết lên đôi vai của Chính phủ.
![]() |
|
Cánh cửa tiếp cận với nguồn vốn này cũng rất hạn chế. Ảnh: rd.com |
Và sẽ đến một lúc nào đó, kể cả với sự bảo lãnh của Chính phủ, các chủ nợ nước ngoài sẽ đặt câu hỏi: Liệu Chính phủ Việt Nam có thể thực hiện được toàn bộ nghĩa vụ nợ của mình với quy mô như vậy không? Nói cách khác, cánh cửa tiếp cận với nguồn vốn này cũng rất hạn chế.
Sẽ có người chỉ ra rằng các ngân hàng trong nước cũng có một nguồn vốn ngoại tệ nhất định và Việt Nam còn có một khoản dự trữ ngoại tệ nghe đâu chừng 20 tỷ đôla, là những nguồn mà các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước có thể trông vào.
Tuy nhiên, cũng giống như trường hợp với các tổ chức tín dụng nước ngoài. Có lẽ trừ khi có mệnh lệnh hành chính của Chính phủ buộc các ngân hàng nội địa cung cấp tín dụng theo yêu cầu của các doanh nghiệp (nhà nước) hoặc Chính phủ đứng ra bảo lãnh thì các doanh nghiệp mới có thể tiếp cận được với nguồn vốn này, khi xét đến những yếu tố tiêu cực trong môi trường sản xuất kinh doanh hiện nay. Còn nguồn dự trữ ngoại tệ thì về bản chất không phải là để cho các hợp đồng tín dụng thương mại, và cũng không phải là sẵn sàng cho mục đích này, ít ra vì nó còn phải thực hiện nhiều sứ mệnh quan trọng hơn, hoặc việc sử dụng cho mục đích này sẽ gây ra nhiều hậu quả tai hại hơn.
Tóm lại, về nguyên tắc, tiền (ngoại tệ) vẫn còn ở một nơi nào đó và vẫn có thể đến được tay các doanh nghiệp, nhưng với những điều kiện ngặt nghèo hơn, đồng nghĩa với chi phí vốn sẽ không hề rẻ, làm cho việc mua máy móc thiết bị trở nên không còn mấy hấp dẫn nữa, bên cạnh chuyện mù mịt thị trường đầu ra.
Đặt vấn đề một cách đơn giản hơn, nếu chuyện này thực sự là một cơ hội thì sẽ có nhiều doanh nghiệp ở nhiều nước khác cũng không dại gì mà bỏ qua. Nhưng việc giá cả hàng hóa tụt giảm mạnh như thời gian qua tự nó nói lên rằng đó không phải là cơ hội!
Cơ hội nào trong khủng hoảng?
Vậy Việt Nam có cơ hội gì trong cuộc khủng hoảng này? Theo người viết, cơ hội là không có nhiều, và nếu có thì đó là cơ hội cho các thay đổi và cải cách trong bản thân Chính phủ cũng như trong chính sách kinh tế của mình.
Có lẽ sau cuộc khủng hoảng này, nhiều người Việt Nam, trong đó có những quan chức và nhà quản lý, sẽ tin rằng không có cái gì là không thể xảy ra trong thế giới thực này, và Việt Nam quá nhỏ bé để có thể bình yên vô sự đứng ngoài mọi biến động trên thế giới. Rất hy vọng sau đây sẽ có một cuộc lột xác, thay đổi về đội ngũ, tư duy và trình độ quản lý, mức độ minh bạch, phương hướng phát triển.
Tuy vậy, cơ hội này lại cũng rất có thể sẽ trở thành một thảm họa nếu như người ta nhân danh chống suy thoái, chống khủng hoảng mà thực hiện những biện pháp can thiệp bất hợp lý và những chính sách phi kinh tế mà vì khuôn khổ có hạn ta không thể nêu ra đây.
-
Ts. Phan Minh Ngọc

