Chuyên gia Huỳnh Bửu Sơn và hồi ức về chú Sáu Dân
Để nhớ về cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt (tên thân mật: Sáu Dân) nhân 100 ngày mất của ông, Tuần Việt Nam trân trọng giới thiệu hồi ức của chuyên gia kinh tế Huỳnh Bửu Sơn về lần đầu được gặp và làm việc với ông.
Chuyên gia kinh tế Huỳnh Bửu Sơn (trái) và Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt |
Khoảng giữa năm 1986, những hậu quả của cuộc cải cách giá, lương, tiền năm 1985 đã được cảm nhận ở khắp nơi trên cả nước. Lưu thông hàng hoá bị đình trệ vì thiếu tiền mặt, ở các tỉnh, nhất là ở nông thôn, người ta quay lại phương thức hàng đổi hàng.
Một người quen của tôi ở Vĩnh Long nói rằng để mua mấy mét vải cho con, anh phải mang mấy giạ lúa ra đổi. Tiền lẻ thiếu trầm trọng khiến cho mặt bằng giá bị nâng lên một cách bất đắc dĩ, càng làm cho hoạt động trao đổi hàng hoá trong nền kinh tế trở nên đình trệ. Trong bối cảnh đó, để tự cứu, các địa phương càng tăng cường các biện pháp ngăn sông cấm chợ nhằm giữ chặt hàng hoá cho địa phương mình, điều này càng làm cho sản xuất và lưu thông hàng hoá trong nước lâm vào cảnh bế tắc.
Việc cải cách tiền lương không cải thiện được thu nhập thực tế của cán bộ công nhân viên vì mặt bằng giá sau cải cách đã thay đổi theo chiều hướng tăng mạnh. Nền kinh tế đứng trước một nghịch lý: giá hàng hóa tăng vọt, sản xuất, lưu thông đình trệ, đồng tiền khan hiếm, đông đảo người dân ở nông thôn không có tiền, nhưng đồng thời mọi người lại rất sợ giữ tiền đồng.
Ai có được một ít tiền đều vội vã chạy thoát khỏi chúng bằng cách mua vàng, đô la hoặc bất cứ thứ hàng hóa nào có thể dự trữ được và điều đó càng làm cho đồng tiền mất giá từng ngày. Những nguời thực hiện cuộc cải cách giá - lương - tiền muốn thử nghiệm một giải pháp cứu nguy cho nền kinh tế mà họ nghỉ là phù hợp, nhưng không ngờ chính cái gọi là giải pháp cứu nguy đó đã tạo ra một vấn đề khác còn trầm trọng và nan giải hơn, một tình trạng lạm phát suy thoái.
Vào thời điểm đó không thiếu những nhận định đại loại như: "Tiền mặt vừa thừa vừa thiếu, thừa trong dân cư và thiếu trong hệ thống ngân hàng và trong khu vực Nhà nước" hoặc "nền kinh tế đang lâm vào tình trạng lạm phát phi mã".
Từ những nhận định đó, nhiều giải pháp đã được đề xuất như “phải tăng cường giám sát chặt chẽ tiền mặt" hạn chế phát hành tiền ra lưu thông", "kiểm soát chặt chẽ lưu thông hàng hoá, chống đầu cơ tích trữ, tăng cường quản lý thị trường"... Khỏi phải nói, những biện pháp như thế chẳng những không cải thiện được tình hình mà còn làm trầm trọng thêm.
![]() |
|
Chờ đợi mua chất đốt ở phường 17, quận 5, TP.HCM (ảnh chụp tháng 10_1984) |
Vào khoảng tháng 10/1986, anh Hai Chí (Võ Trần Chí – Bí thư Thành Ủy TP.Hồ Chí Minh) và anh Năm Nghị (Phạm Chánh Trực - Bí thư Quận Ủy Quận 5) có đến trao đổi với chúng tôi xoay quanh vấn đề giá - lương - tiền. Anh Hai Chí nói qua về tình hình kinh tế của TP HCM và đề nghị anh em góp ý về một giải pháp nhằm giúp thành phố khắc phục hậu quả khó khăn này.
Cuộc thảo luận rất sôi nổi vì không những nó đặt ra một số vấn đề về thực tiễn mà còn liên quan đến các vấn đề về lý thuyết kinh tế. Tôi có nói với anh Hai Chí rằng đây là một vấn đề kinh tế vĩ mô nên không thể được giải quyết chỉ trong phạm vi thành phố Hồ Chí Minh.
Cuối buổi họp, anh Phan Chánh Dưỡng thay mặt chúng tôi nhận lời thực hiện đề tài theo yêu cầu của anh Hai Chí. Tôi vinh dư được anh em tín nhiệm giao cho làm chủ đề tài và chúng tôi cùng thống nhất là đề tài không hạn chế trong phạm vi thành phố Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên, do không có điều kiện tiếp cận số liệu thống kê kinh tế cả nước nên tôi phải sử dụng số liệu có được tại Thành phố và miền Nam trước 75 để minh hoạ và chứng minh. Phải nói rằng việc thu thập số liệu thống kê vào thời kỳ đó là muôn vàn khó khăn vì số liệu nào cũng được xem là mật cả.
Tuy thế, với một tinh thần hăng say, chúng tôi tích cực thảo luận trao đổi, góp nhặt số liệu, phân tích,đánh giá và đi đến thống nhất về nhận định tình hình và giải pháp đề xuất... Về giá, chúng tôi muốn chứng minh rằng tình trạng tăng giá hàng mà chúng ta đang chứng kiến chỉ là một sự tăng giá ảo, nó không mang lại sự kích thích sản xuất hay giải quyết công ăn việc làm như tác động thường thấy của lạm phát trong một nền kinh tế đang tăng trưởng.
Mỗi người nhìn hiện tượng giá cả từ góc độ thu nhập của mình và đều thấy nó khác nhau, người tiêu dùng thấy giá hàng hóa tăng trong khi nhà sản xuất lại thấy giá hàng hóa bán ra không bù đắp nổi chi phí sản xuất, còn người nước ngoài tiêu xài đôla tại Việt Nam lại thấy giá cả hàng hoá tại đây ngày càng rẽ hơn trước. Số liệu thống kê cho thấy hầu hết giá cả các loại hàng hoá đều giảm so với giá vàng và đô la.
Mặt khác, bằng những con số thực tế, chúng tôi chứng minh rằng tình trạng cấm chợ ngăn sông mà các địa phương tạo ra đã làm lệch lạc hệ thống giá cả trong nền kinh tế như thế nào: trong khi giá 1 kg khoai mì lát tại TP HCM là 2 đồng thì tại Buôn Mê Thuột chỉ là 50 xu.
Giá các mặt hàng khác như gạo, tôm cá, thịt … cũng tương tự. Chúng tôi cũng nhấn mạnh rằng mục tiêu không thay đổi của chính sách tiền tệ tại các nước kế hoạch hoá tập trung trong đó có Việt Nam là chống lạm phát bằng cách hạn chế lượng tiền đưa ra lưu thông nên nó không thể tạo ra lạm phát tiền tệ nhưng lại tạo ra suy thoái và sự kiệt quệ sức sản xuất, điều đó đã khiến cho hàng hóa ngày càng trở nên khan hiếm và tăng giá, trong khi thu nhập người lao động, công nhân viên chức không tăng kịp theo đà tăng giá đó.
Chính vì lượng hàng hóa cung ứng cho nền kinh tế luôn luôn thấp so với nhu cầu mà Nhà nước phải đối phó bằng biện pháp tem phiếu và khẩu phần, và thế là hiện tượng tăng giá suy thoái xảy ra triền miên trong nền kinh tế. Rõ ràng không thể khắc phục hiện tượng này đơn giản bằng việc tiếp tục hạn chế khối tiền tệ.
Quản lý chặc chẽ tiền mặt và thu đổi tiền là những biện pháp kiểm soát tiền tệ thường xuyên của chính sách tiền tệ thời kỳ đó (trong 10 năm đổi tiền 3 lần), dẫn đến hiện tượng phi tiền tệ hoá nền kinh tế, đồng tiền trong nước bị từ chối. Người dân ở thành thị có xu hướng dùng vàng và đô la làm phương tiện thanh toán, cất giữ, còn người dân nông thôn, do thiếu tiền mặt, trở lại thời kỳ hàng đổi hàng.
Về lương, cải cách tiền lương là cần thiết, nhưng những biện pháp không phù hợp tiếp theo đã triệt tiêu hiệu quả của việc cải cách tiền lương. Thật ra, cuộc cải cách giá - lương - tiền có thể không dẫn đến tình hình hỗn loạn kinh tế nghiêm trọng đến thế nếu Nhà Nước không đổi tiền.
Việc đổi tiền đã đánh đòn quyết định vào niềm tin mỏng manh cũa người dân vào đồng tiền VN vào lúc đó và sự chạy trốn đồng bạc của người dân cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự trượt giá không ngăn nổi của đồng bạc.
Trong phần kiến nghị, chúng tôi đề nghị mấy điểm chính như chấm dứt tức khắc tình trạng cấm chợ ngăn sông bằng cách trước tiên bãi bỏ các trạm kiểm soát hàng hoá trên các trục lộ giao thông, áp dụng một chính sách tiền tệ tích cực nhằm hỗ trợ cho sản xuất phát triển, cải tổ hệ thống ngân hàng để tạo sự tín nhiệm cho người gửi tiền, chuẩn bị những loại tiền có mệnh giá lớn như 100 ngàn đồng chẳng hạn (lúc đổi tiền mệnh giá cao nhất của đồng bạc là 50 đồng(?)) và đặc biệt, để tạo lại niềm tin cho người dân, Chính phủ cần phải công bố cho người dân biết là sẽ không bao giờ đổi tiền.
Đến cuối năm 1986, đề tài đã hoàn chỉnh. Anh Phan Chánh Dưỡng mời anh Hai Chí và anh Năm Nghị đến nghe trình bày sơ bộ và cho ý kiến. Buổi nói chuyện hôm đó rất sôi nổi, anh Hai Chí đặt nhiều câu hỏi, chúng tôi thay phiên nhau trả lời và hầu như giải đáp được các điểm chưa rõ của anh Hai Chí, hay ít ra có vẻ như thế. Chúng tôi có gởi cho anh Hai Chí và anh Năm Nghị mỗi người một bản thảo của đề tài.
![]() |
|
Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt lúc sinh thời là người sẵn sàng lắng nghe trí |
Ít lâu sau, khoảng vừa ra Tết, anh Dưỡng thông báo với chúng tôi là anh Năm Nghị có gởi copy của đề tài ra Hà Nội cho ông Sáu Dân (lúc đó là Phó Chủ tịch HĐBT) đọc, và cho biết có khả năng là ông Sáu Dân sẽ mời chúng tôi ra Hà nội để trình bày về đề tài, dự kiến đoàn sẽ gồm anh Dưỡng, anh Trần Bá Tước và tôi. Ngoài ra, phía quận 5 sẽ có anh Hai Đoàn là Giám đốc (trước đây là phó Chủ tịch UBND quận ) cùng đi.
Việc đi đứng của anh Dưỡng, anh Tước là dễ rồi vì hai anh làm ở Cholimex, riêng tôi lúc đó đang làm việc tại Imexco mà chuyến đi này lại chẳng dính dáng gì với Imexco cả. Tôi báo với anh Dưỡng để anh Dưỡng nói lại với anh Hai Chí và sau đó Thành Phố có văn bản gởi anh Bảy Hoàng TGĐ Imexco đề nghị bố trí cho tôi đi Hà Nội, đồng thời anh Năm Nghị có gửi cho tôi một thư giới thiệu gửi ông Sáu Dân báo về việc có một đoàn ở TP ra Hà nội báo cáo về vấn đề giá - lương - tiền theo yêu cầu của ông Sáu.
Chính Imexco đã mua vé máy bay cho tôi để đi cùng với anh Tước và anh Dưỡng nhưng thật không may cho tôi là vào giờ chót anh Dưỡng cho biết sẽ không đi máy bay mà đi đường bộ và sẽ ra sau. Tôi nói không may là vì đây là lần đầu tiên tôi ra Hà Nội mà lại phải đi một mình.
Thật ra, tôi đi đến hai mình vì tôi cũng muốn nhân dịp này đưa bà xã đi Hà Nội một chuyến cho biết thủ đô như thế nào. Thế là cả hai vợ chồng tôi đáp chuyến bay đi Hà Nội trên chiếc TU của Liên Xô vào một ngày thượng tuần tháng Ba năm 1987...
- Huỳnh Bửu Sơn


%20%E1%BA%A2nh%20t%C6%B0%20li%E1%BB%87u..jpg)
