Chú Sáu Dân - người thầy của các nhà báo
"Đọc hầu hết các bài báo viết về chú, tôi chợt nhận ra, thật khó có ai mà có thể biết hết tất cả những gì chú đã làm cho dân tộc này, đất nước này và nhất là cho từng con người vô danh đều là những-người-thân-như-ruột-thịt của chú." - Tác giả Vũ Kim Hạnh.
Tuần Việt Nam giới thiệu với độc giả bài viết Người thầy của các nhà báo của tác giả Vũ Kim Hạnh. Bài viết in trong cuốn Ông Sáu Dân trong lòng dân (NXB Tri thức, 2008)
*****
Ngày 12-6-2008 là một ngày ác mộng. Suốt từ sáng 11-6, tôi nhận được rất nhiều email và tin nhắn. Chú Sáu mất thật không, một người không bao giờ thỏa hiệp sao lại thỏa hiệp với cái chết đột ngột thế? Sao chú đi nhanh vậy? Mà sao lại là lúc này? Và đến ngày 12-6 thì hàng loạt câu hỏi xoay quanh: Tin dữ có thật không? Nếu thật sao báo chí làm thinh hết vậy?
![]() |
| Bìa cuốn sách Ông Sáu Dân trong lòng dân |
Tôi mở bài báo chú viết năm ngoái, dịp 21-6-2007 (năm nay, chú ra đi khi chỉ còn 10 ngày nữa là 21-6) mà tôi nhớ mang máng là có nói tới "khoảng trống thông tin". Đúng là trong bài đó, chú có nói: "Không được để có những khoảng trống thông tin. Phải chủ động thông tin và tạo đối thoại cởi mở với xã hội." Tôi chợt nghĩ, chú cũng khó có thể tưởng tượng nổi có ngày nào đó, chính chuyến đi xa của mình lại thành một khoảng trống thông tin.
Trong rất nhiều câu hỏi qua tin nhắn, có một tin nhắn “năn nỉ” đặc biệt. Cô ơi, ba tụi con là Phan Tường Vân. Bác Sáu giúp gia đình con nhiều, tụi con muốn nhờ cô đưa đi viếng bác Sáu. Anh Vân là một chuyên gia kinh tế, từng là bộ trưởng trong chế độ cũ sau này có được chú Sáu xin cho căn nhà nhỏ.
Điều lạ lùng là mấy hôm nay, gặp ai, tôi thấy hình như cũng đều có một mối liên hệ riêng tư mà sâu xa thiêng liêng nào đó với chú; ai cũng có một câu chuyện gắn bó đầy tình nghĩa với chú. Đọc hầu hết các bài báo viết về chú, tôi chợt nhận ra, thật khó có ai mà có thể biết hết tất cả những gì chú đã làm cho dân tộc này, đất nước này và nhất là cho từng con người vô danh đều là những-người-thân-như-ruột-thịt của chú.
Sáng 13-6-2008, vào thăm chú khi tẩm liệm, tôi gặp lại anh Nguyễn Văn Huấn. Lại nghĩ đến câu chuyện lý thú hồi anh còn là thư ký của chú Sáu: theo yêu cầu của chú, báo Tuổi Trẻ đã tổ chức cho các anh chị văn nghệ sĩ Sài Gòn góp ý cho chính quyền cách mạng. Chú đến sớm, kín đáo ngồi phía sau bức vách mỏng lắng nghe từng lời thẳng thắn, cởi mở của họ. Đôi người còn tiếc là phải chi có anh Sáu ở đây nghe tụi tôi nói mới đã. Chú nghe hết và cười lặng lẽ.
Tôi biết tới bây giờ không có ai trong số văn nghệ sĩ dự họp biết chuyện này, còn tôi, đó là một bài học vỡ lòng đầy ấn tượng về nghề báo: Lắng nghe, nắm cho được thông tin chân thật nhất. Thập niên 80 khi đó, những người làm báo trẻ của Tuổi Trẻ thường được gọi đến gặp chú hầu như hàng tuần. Chú muốn nghe dư luận người dân và phản ứng với các quyết sách nhà nước thông qua kênh ý kiến bạn đọc. Và chúng tôi hào hứng, miên man phản ánh khá bộc trực mọi đều người dân nói, và biết rõ rằng những ý kiến phê phán thường được chú ý hơn là các ý kiến “xuôi xị”, cách chế giễu của chú.
Tôi biết chú cũng thường gặp các anh chị nghệ sĩ (và tôi cũng thường được “chầu rìa”). Đó là những cuộc gặp thân tình lạ lùng với các anh Trịnh Công Sơn, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Duy, Trần Long Ẩn, Hoàng Hiệp…, đôi khi các nghệ sĩ tranh luận khá hồn nhiên, lại có khi trêu chọc chú bốc trời. Chú nói đùa, đó là những ăng ten cực hay từ cuộc sống.
Năm 1982, năm cuối chú công tác ở thành phố, chú khuyến khích các nhà báo ở Tuổi Trẻ ra tờ báo châm biếm, báo Cười, lại giới thiệu cả một cây bút chuyên về truyện vui kháng chiến là chú Bảy Trấn (Nguyễn Văn Trấn) là người bạn thân của chú cùng tham gia. Chính chú Bảy Trấn là người đặt cái tên Hai Cù Nèo cho nhân vật chính của Tuổi Trẻ Cười. Đồng thời chú cũng tổ chức tạo điều kiện để chúng tôi cùng các nhà văn trẻ như Lý Lan, Nguyễn Thị Minh Ngọc… viết hồi ký của các vị trí thức thời đầu cách mạng như Phạm Ngọc Thạch, Phạm Văn Bạch, Phạm Thiều.
Tôi được chú ý ưu ái giao viết về bà Nguyễn An Ninh với lời nhắc nhở đặc biệt, con phải tả được hết câu chuyện về tấm lòng cao đẹp của bác gái Nguyễn An Ninh hồi kháng chiến đã sang Quế Lâm chăm sóc cho con em cán bộ mình nhiều năm… Tôi hăm hở nhận lời. Nhưng rồi cứ mải mê đi theo các chuyến công tác xa, các lán trại mịt mùng của thanh niên xung phong, các chuyến đi sang K của bộ đội… cho đến một ngày tôi nghe tin sét đánh, bác gái Nguyễn An Ninh đã qua đời.
Tôi thảng thốt gọi điện cho chú, khi đó đã chuyển ra công tác ở Hà Nội, chú ơi, bác gái Nguyễn An Ninh mất rồi. Tưởng chú sẽ hét lên, nhưng chỉ có một khoảng im lặng dài, và một câu trách ngắn ngủi mà nặng ngàn cân, bây giờ thì còn làm gì được nữa, mày nói với chú làm chi nữa?
Hồi chú còn công tác ở thành phố, khi đi tỉnh, đi thăm doanh nghiệp, đi các công trình chú thường cho người gọi các nhà báo cùng đi. Quan sát tình hình từng nơi, chú thường hỏi ý kiến các nhà báo để qua đó “thẩm tra” cách nhìn nhận. Chú dặn, nhìn chuyện gì cũng phải lật tới lật lui nhiều chiều thì mới hiểu sâu. Làm báo là phản biện xã hội, nếu làm báo mà cứ nói xuôi chiều thì ai cần nhà báo làm chi. Đôi khi chúng tôi báo cáo một tình hình hoàn toàn ngược với báo cáo của các cơ quan chính thức. Chú chăm chú nghe và thỉnh thoảng xoáy vào những góc cạnh hóc hiểm nhất mà truy vấn. Nghe nói lại, chú gật đầu, ừ, nhà báo trẻ làm ơn dẹp cái thói đưa tin công thức, lên gân và sai sự thật đi. Nhưng như vậy thì phải cẩn trọng và khách quan lắm mới được.
Tôi nhớ câu chuyện vui chú thường nói đi nói lại, hồi ở chiến khu có lần quân ta đang tạm thời bị yếu thế, chú phải chém vè dưới hầm khá lâu, tình hình hết sức nguy nan mãi mấy ngày mới lên mặt đất được. Vừa lên đã nghe đài phát thanh của ta loan tin, mấy ngày qua, ta thắng giòn giã, khí thế dâng cao. Chú kết luận: các nhà báo Tuổi Trẻ đừng giòn giã kiểu đó nhé. Khi chú ra công tác Hà Nội đầu năm 83, chú hỏi, nè nhà báo, thử đi với chú một chuyến ra sống ngoài Bắc và viết cho chú được không? Tôi ra ở căn nhà lạnh vắng Hồ Tây một tuần rồi ngập ngừng thưa, thôi chú ơi, buồn quá, con về.
Sau này, mỗi lần tôi ra Hà Nội, chú đều hỏi tôi về tình hình báo chí Sài Gòn và báo Tuổi Trẻ. Một hôm, tôi kể chuyện là báo Tuổi Trẻ Cười được chỉ đạo phải viết chuyện cười tích cực. Chú tròn mắt: là sao? Thưa chú, là cười vui vì những điều tích cực trong xã hội, cười vui vẻ chứ không phải châm biếm. Chú bật cười, cười sang sảng và nói, trời đất ơi, rồi các nhà báo cười được không? Tôi hỏi đùa, chú, chú cười thế này là cười tích cực hay cười châm biếm vậy chú, và hai chú cháu cùng kha kha…
Những lần chú gặp các anh chị trí thức, chuyên gia, đặc biệt là các chuyên gia có tiếng của chế độ cũ, chú thường kể rằng, chú học được nhiều điều từ kinh nghiệm điều hành kinh tế của họ. Lắng nghe và ham học, có thể nói đó là một phẩm chất đẹp bình dị của nhà lãnh đạo này. Tôi cũng tập lắng nghe chú và học được rằng, quả tình chú đã học rất nghiêm túc những gì chưa biết và cũng học tự điều chỉnh những gì biết sai.
Những năm tháng gần đây, chú viết hàng loạt bài về những vấn đề lớn của đất nước. Từ bài cảnh báo đừng đặt người nghèo ra bên lề xã hội, đến chuyện mở rộng Hà Nội, đối xử với các tập đoàn và cơ hội phát triển của đất nước chúng ta. Tôi theo dõi các bài viết ấy và đôi khi thấy ngạc nhiên về năng lượng kinh khủng của một lão ông đã ngoài tám mươi. Nhưng điều cảm động nhất là khả năng hoàn thiện tư duy của chú trong các bài viết mới.
Viết về nghề báo năm 2007, chú giữ y nguyên những điều đã truyền nghề cho chúng tôi vào những năm 80,90: nhà báo là nhà phản biện xã hội, là kênh thông tin từ nhân dân. Báo chí là công cụ giám sát quyền lực nhà nước của nhân dân nhưng nhấn mạnh thêm vai trò luật pháp. Ông phê phán những người tự cho mình “có quyền đứng trên luật pháp, nói và viết theo sự áp đặt chủ quan phiến diện của một số ít người song lại nhân danh Đảng”. Thực tế là đã có những lúc ông có ý kiến cả những trường hợp cụ thể như vai trò cơ quan chủ quản đối với báo chí và hẳn là đã có lúc ông xót xa nhận ra sự bất lực của mình trước những gì ông cảnh báo. Điều rất Võ Văn Kiệt là không hề thấy ông nản chí, ông luôn còn đầy đủ năng lượng tiếp cận với hàng loạt vấn đề nóng hổi đang cần tiếng nói và hành động của ông.
Hầu hết các bài viết tràn ngập các báo ngày 13-6-2008 về ông đều có tính thuyết phục cao bởi xuất phát từ thực tế rất phong phú và rất hiếm những lời ngợi ca giả tạo. Tôi vẫn tin khó có ai phản ánh được đầy đủ cuộc đời hành động sôi động lạ lùng của ông, tầm nhìn khoáng đạt đáng kinh ngạc của ông. Tấm lòng và trí tuệ và khả năng hành động. Thiếu một chút nào, không là Võ Văn Kiệt.
Tôi lặng lẽ ngồi với Hiếu Dân, con gái chú vào buổi sáng chú còn nằm ở Bệnh viện Thống Nhất hôm 12-6-2008. Chưa đông nghẹt người chen chúc, ngậm ngùi, nức nở đến nhìn chú lần cuối vào sáng hôm sau. Hiếu Dân nói thật nhẹ, em chỉ có chút an ủi là 14 tháng sau cùng, ba về ở với em. Cha con gần nhau được từng ấy ngày là lâu nhất. Ba dặn, ba muốn đám tang ba chỉ có những người thân và gia đình, ai thương ba thì đến viếng, còn vì nghi thức thì thôi.
Tôi hỏi lại, đếm số người thương ba đến viếng thì bao nhiêu ngày cho hết? Hiếu Dân lại nói. Ba còn ước rằng, hãy thiêu ba và mang tro của ba đến đúng khúc sông mà hồi xưa má và hai em của em bị nạn mất và rải tro ở đó, để cuối đời ba được về sum họp với mẹ. Ba còn nói con có thể nhờ mấy chú ở Quân khu 7 giúp con…
Mấy ngày tin chú mất, thành phố sụt sùi. Tôi cứ nghĩ, thành phố có tang, nhà có tang.
Suốt mấy ngày đó, tôi cứ bồn chồn. Tôi có nói với Hiếu Dân như nhận lỗi với chú. Chị đã có lúc nghĩ, sao chú ra đi như vậy trong khi bao nhiêu người mong chờ, hy vọng ở chú? Nhưng giờ nghĩ lại, những người trẻ sao lại đặt gánh nặng trên vai ông lão 86 nhiều như vậy, chính là mình mới bất công với chú.
Nói vậy mà lòng tôi cứ không yên. Cuối cùng, tôi đành chỉ tự trấn an, tự tìm cách dỗ yên bằng một lời tự nhủ: biết sao giờ, thôi nhớ chú thì cứ làm tiếp thay cho chú những gì chú muốn làm mà còn đang dang dở…
-
Vũ Kim Hạnh (trích sách Ông Sáu Dân trong lòng dân - NXB Tri thức & Phương Nam Books phát hành, tháng 8/2008)
Một số tin, bài có liên quan:
>>>>Ở Hà Nội, lần đầu gặp chú Sáu Dân
>>>>Chuyên gia Huỳnh Bửu Sơn và hồi ức về chú Sáu Dân
>>>>Ông Sáu Dân trong lòng dân
