Chiến lược khai thác tài nguyên tiểu vùng sông Mekong của TQ

(TuanVietNam) - Để hiểu thêm về chính sách đầu tư khai thác tài nguyên thiên nhiên của Trung Quốc tại khu vực tiểu vùng sông Mekong, Tuần Việt Nam xin giới thiệu Bản tóm tắt chính sách về chủ đề này do các tổ chức Heinrich Böll Stiftung, WWF và Viện nghiên cứu phát triển bền vững quốc tế phối hợp thực hiện.


Trung Quốc đang tự biến mình thành một cường quốc kinh tế thế giới. Sự vươn lên của kinh tế Trung Quốc và hệ quả của nó là nhu cầu về nguồn cung cấp đáng tin cậy và đều đặn các loại tài nguyên thiên nhiên rẻ tiền đã dẫn đến việc tăng nhanh chóng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ Trung Quốc đổ về châu Phi và Mỹ Latinh.

Nền tảng của mối quan hệ ngày càng tăng giữa Trung Quốc và các nước cung cấp tài nguyên thiên nhiên là sự hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu, ngày càng liên kết chặt chẽ các phần khác nhau của thế giới trong những chuỗi giá trị phức tạp. Hệ thống kinh tế toàn cầu này liên kết các quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác kinh tế và Phát triển (OECD), gồm các nước tiêu dùng chính đối với các sản phẩm của thế giới, với các quốc gia thu nhập thấp, những nước cung cấp phần lớn tài nguyên thiên nhiên là cơ sở để sản xuất hàng hóa.

Sự kết nối được tạo ra khi các nước sản xuất biến tài nguyên thiên nhiên thành sản phẩm rẻ tiền để xuất khẩu và bán vào các thị trường thuộc OECD. Trong hệ thống toàn cầu đó, Trung Quốc trong một thập kỷ qua đã nổi lên như một trong những trung tâm sản xuất chính của toàn cầu.

Trong nửa đầu năm 2005, các doanh nghiệp Trung Quốc đã đầu tư 4,1 tỉ USD ra nước ngoài, tăng gần 250% so với năm trước. Năm 2005, đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp phi tài chính Trung Quốc tăng 20% so với năm 2004, đạt 12,3 tỉ USD. Trong ba quý đầu năm 2006, tổng đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc đạt 14,1 tỉ USD, tăng 80% so với năm trước, và dự tính đạt 16 tỉ USD vào cuối năm.

Trung Quốc trong một thập kỷ qua đã nổi lên như một trong những trung tâm sản xuất chính của toàn cầu. Ảnh: Nhà máy của Nike ở Trung Quốc -  rationalrevolution.net

Căn cứ vào tốc độ mở rộng công nghiệp nhanh chóng và nguồn tài nguyên thiên nhiên trong nước có hạn của Trung Quốc, không có gì ngạc nhiên nếu khai mỏ và năng lượng là nhân tố chính trong danh mục đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc. Các cơ quan tín dụng và bảo lãnh xuất khẩu của Trung Quốc, đặc biệt là Ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc và Sinosure, đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích sự mở rộng nhanh chóng của thương mại Trung Quốc và tư duy lại dòng vốn đầu tư về phía Nam của Trung Quốc.

Năm 2005, Ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc đã cho vay được 158,6 tỉ Nhân dân tệ (tương đương 20 tỉ USD). Ngân hàng này mới thành lập năm 1994 nhưng đã trở thành một trong những cơ quan tín dụng xuất khẩu lớn nhất thế giới.

Phần nào ảnh hưởng từ nhu cầu tăng nhanh của Trung Quốc đối với tài nguyên thiên nhiên, giá cả các mặt hàng này đang tăng cao trên toàn cầu. Đầu tư vào các ngành công nghiệp khai khoáng một thời bị cấm nay lại có nhiều ý nghĩa kinh tế. Năm 2002, Trung Quốc trở thành nước tiêu dùng đồng lớn nhất thế giới, và đến nay đã trở thành nước tiêu dùng nhôm, kẽm và kền lớn nhất thế giới.

Năm 2002, Trung Quốc cũng trở thành nước tiêu dùng cao su tự nhiên lớn nhất thế giới, vượt qua Mỹ với 3,45 triệu tấn, chiếm 18,2% tiêu dùng toàn cầu. Nhu cầu cao su tự nhiên của Trung Quốc dự tính đạt mức 11,5 triệu tấn mỗi năm vào năm 2020, chiếm khoảng 30% tổng sản xuất của thế giới. Sự tăng trưởng này liên quan trực tiếp đến nhu cầu ngày càng tăng của Trung Quốc về phương tiện đi lại, dự tính sẽ đạt 200 triệu phương tiện vào năm 2020, tăng khủng khiếp so với mức 10 triệu phương tiện trên cả nước năm 2005.

Chiến lược "hướng ngoại" của Trung Quốc nhằm đáp ứng nhu cầu tài nguyên thiên nhiên

Quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và thế giới đang trải qua một sự thay đổi nhanh chóng. Kế hoạch 5 năm lần thứ 10 về phát triển kinh tế - xã hội quốc gia (2001-2005) đặt ra chiến lược cho Trung Quốc nhằm chủ động tận dụng tài nguyên thiên nhiên nước ngoài, thiết lập các cơ sở cung cấp dầu khí ở nước ngoài, đa dạng hóa nguồn nhập khẩu dầu mỏ, xây dựng nguồn dữ trữ dầu mỏ chiến lược và duy trì an ninh năng lượng quốc gia.

Từ năm 2004, chiến lược "hướng đến toàn cầu" (hay "hướng ngoại") chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu về tài nguyên thiên nhiên của nước này, cả ở khu vực lẫn toàn cầu, và khuyến khích đầu tư ra nước ngoài bằng cách trợ cấp cho các công ty Trung Quốc đầu tư vào việc tìm kiếm tài nguyên thiên nhiên ở nước ngoài. Chiến lược này và các sáng kiến liên quan bao gồm việc ban hành các quy định về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các quốc gia và các lĩnh vực, thông tin liên quan đến môi trường và cơ hội đầu tư ra nước ngoài, việc chính quyền trung ương ủy quyền cho các tỉnh và thành phố, cũng như việc nới lỏng các chính sách quản lý ngoại hối đối với đầu tư ra nước ngoài.

Đầu tư "hướng ngoại" của Trung Quốc ngày càng mạnh mẽ. Ảnh: Ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc - ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong dòng vốn chảy về phía Nam của Trung Quốc - Chinadaily

Chính quyền Trung Quốc đã có những nỗ lực đáng kể nhằm phát triển các chính sách và quy định để quản lý viện trợ và FDI. Mặc dù quá trình này vẫn còn đang trong giai đoạn đầu, nó vẫn có khả năng xác định và hoà giải các xung đột có thể xảy ra liên quan đến việc đầu tư vào các dự án nhạy cảm như xây dựng các đập thủy điện, khai thác triệt để các mỏ tài nguyên và lập các đồn điền quy mô lớn.

Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều thách thức. Ví dụ các quy định về đầu tư nước ngoài của Trung Quốc vào hoạt động lâm nghiệp yêu cầu các công ty Trung Quốc tôn trọng triệt để luật sở tại của các nước họ đang hoạt động. Trong trường hợp khu vực sông Mekong, nhiều người cho rằng các luật này chưa được thực hiện đầy đủ. Nếu các công ty Trung Quốc cũng hoạt động lỏng lẻo như các công ty sở tại trong việc tuân theo các luật về bảo vệ rừng và môi trường, thì hoạt động kinh doanh sẽ không có sự cải thiện.

Tác dụng thực tế của các quy định này là cho thấy những công ty Trung Quốc lờ đi các quy định của địa phương, sẽ không chỉ vi phạm luật của nước sở tại mà trên thực tế còn vi phạm luật của Trung Quốc.

Chiến lược của Trung Quốc tại khu vực sông Mekong

Quan hệ của Trung Quốc với ba nước trong khu vực sông Mekong là Campuchia, Lào và Việt Nam vừa năng động, vừa phức tạp. Một mặt, các quan hệ này chưa bao giờ tốt như hiện nay. Các vấn đề biên giới và biển đảo đang được xử lý một cách hòa bình, bị che khuất bởi các lợi ích kinh tế. Sự gần gũi của các quốc gia này khiến các dòng chảy thương mại trở nên dễ dàng, sự cải thiện cơ sở hạ tầng đang kết nối các thành phố lớn trong khu vực và các biên giới đã mở rộng cho các hoạt động thương mại quốc tế.

Tương lai sẽ còn hứa hẹn sự hội nhập kinh tế lớn hơn thông qua Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA), chứng kiến sự tự do thương mại và đầu tư tiến bộ hơn giữa hai đối tác thương mại này trong những năm tiếp theo. Theo Chương trình thu hoạch sớm trong khuôn khổ ACFTA, thuế suất liên quan đến khoảng 600 sản phẩm nông nghiệp chưa chế biến đã được dỡ bỏ tháng 1/2006.

Đầu tư lớn của Trung Quốc trong khuôn khổ Chiến lược kinh tế Tiểu vùng sông Mekong mở rộng (GMS) đã cải thiện cơ sở hạ tầng giao thông, một phần thông qua Hành lang kinh tế Tiểu vùng sông Mekong mở rộng của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), bao gồm một mạng lưới đường sá kết nối tất cả các nước trong Tiểu vùng sông Mekong mở rộng gồm Việt Nam, Campuchia, Lào, Thái Lan, Myanmar và tỉnh Vân Nam của Trung Quốc.

Sự liên kết sâu rộng hơn được tăng cường thông qua một hệ thống điện khu vực đang được mở rộng và kế hoạch đường sắt nối từ Côn Minh đến Singapore, nhiều phần vốn là từ đầu tư và hỗ trợ phát triển của Trung Quốc.

Tất cả đã cho phép Trung Quốc xây dựng quan hệ song phương và đa phương mạnh mẽ thông qua đầu tư, thương mại và viện trợ với các nước láng giềng phía Nam, cũng như bảo vệ chính mình khỏi các ảnh hưởng từ phương Tây bằng cách đảm bảo các khu vực biên giới thông qua các quan hệ hữu hảo.

Sông Mekong đoạn chảy qua đất Lào. Ảnh: trekearth.com

Trong những năm gần đây, Campuchia, Lào và Việt Nam đã chứng kiến hai xu hướng liên quan đến nhau nhưng vận hành theo những hướng khác nhau. Xu hướng đầu tiên là sự rút lui một phần của các thể chế tài chính quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB) và Ngân hàng phát triển châu Á (ADB). Các thể chế đã trở nên ngại ngần khi đầu tư vào các dự án lớn gây tranh cãi về môi trường và xã hội.

Trong những năm gần đây, các thể chế tài chính quốc tế này đã phát triển các tiêu chuẩn quốc tế và thông lệ tối ưu cho việc đầu tư vào các dự án có tiềm năng ảnh hưởng lớn về xã hội và môi trường, như thủy điện, khai mỏ và nông nghiệp công nghiệp hóa. Các tiêu chuẩn này thường bị các chính phủ sở tại chỉ trích là phiền hà và cồng kềnh, khiến các dự án phải mất hàng năm để được thông qua.

Điều này tạo ra một khoảng trống đầu tư và các nhà tài phiệt lớn ở châu Á đang dần tìm cách lấp đầy. Nó cũng giúp các "nhà tài phiệt mới" như các công ty Trung Quốc tận dụng lợi thế về môi trường đầu tư thuận lợi và tài nguyên thiên nhiên phong phú của các nước láng giềng.

Gần đây, các ngân hàng và công ty đầu tư Trung Quốc chưa bị hạn chế bởi những tiêu chuẩn tương tự trong các hoạt động ở nước ngoài, cho dù rất có thể trong nước họ sẽ phải tuân theo những tiêu chuẩn đó. Trung Quốc đem đến một kiểu gói đầu tư khác biệt để các nước này xem xét: một gói đầu tư không có những dấu chuẩn về nhân quyền, các lý tưởng dân chủ và các quy định bảo vệ môi trường, nhưng lại được xây dựng trên cơ sở quan hệ và tình bạn.

Trung Quốc cũng được coi là một "quyền lực mềm" về văn hóa và ý tưởng, làm bạn với tất cả các nước trong khu vực, với tình bạn là mũi nhọn trong các hoạt động kinh doanh. Ví dụ, Chính phủ Trung Quốc ủng hộ xây dựng một số văn phòng nhà nước và văn hóa quan trọng, như Hội trường văn hóa quốc gia ở Lào và văn phòng mới của Hội đồng Bộ trưởng Campuchia.

Tuy nhiên, vai trò của Trung Quốc ở Campuchia, Lào và Việt Nam, cũng như ở các tầng lớp xã hội khác nhau, là rất khác nhau. Vấn đề dân tộc cũng là một chủ đề phức tạp và nhạy cảm, khi có hàng triệu người sinh ra và lớn lên ở ba nước khu vực hạ lưu sông Mekong có mang di sản của Trung Quốc. Việt Nam, một cách tự nhiên, chứa đựng nhiều ảnh hưởng của Trung Quốc vì đã từng bị xâm lược trong quá khứ. Chính phủ Campuchia thì chào đón ảnh hưởng và vốn của Trung Quốc, nhưng ở vùng nông thôn lại có những lo ngại về các đập ngăn nước và các dự án khác do Trung Quốc bỏ vốn đầu tư.

Sự khác biệt về nhận thức của giới tinh hoa và dân thường về ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc là thách thức đáng kể đối với lãnh đạo các nước Campuchia, Lào và Việt Nam. Khi mà xã hội dân sự nổi lên, người dân đã bắt đầu lên tiếng phản đối các lợi ích đầu tư của Trung Quốc, như trong trường hợp các quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa, một khu vực giàu dầu mỏ ở biển Đông (biển Nam Trung Hoa).

Ở Lào, nơi không có những thể chế xã hội dân sự chính thức, lâu nay không hề có sự phản đối công khai đối với việc dân nhập cư Trung Quốc tràn vào Lào cùng với vốn đầu tư. Tuy nhiên, sự lo ngại của công chúng đối với dự án xây dựng thành phố vệ tinh Trung Quốc ở Vientiane đã được phản ánh rộng rãi trên nhiều tờ báo.

Đồng bằng châu thổ sông Mekong ở Đông Nam Bộ Việt Nam. Ảnh: britannica.com


Bản tóm tắt chính sách này là một phần của dự án nghiên cứu mang tên Hiểu Trung Quốc như một nhân vật chính trong khu vực sông Mekong, do các tổ chức Heinrich Böll Stiftung, WWF và Viện nghiên cứu phát triển bền vững quốc tế phối hợp thực hiện.

Dự án nhằm mục đích làm sáng tỏ vai trò kinh tế của Trung Quốc tại Việt Nam, Lào và Campuchia như một nền tảng cho việc đối thoại mang tính xây dựng giữa các nhà hoạch định chính sách và các nhân tố lớn khác ở Trung Quốc và các quốc gia khu vực sông Mekong.

Tài liệu này tóm tắt kết quả của một nghiên cứu tổng quát thực hiện trong giai đoạn đầu của dự án. Văn bản gốc đầy đủ có thể tìm thấy tại: www.boell-southeastasia.org, www.wwf.dk và www.tradeknowledgenetwork.net.

  • Chung Hoàng dịch

(còn nữa)

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu