Cái chết được "hẹn giờ" của tờ báo hàng đầu châu Á

Tạp chí Kinh tế Viễn đông (FEER) - một trong những tạp chí hàng đầu của châu Á đang đã đăng "cáo phó" cho sự ra đi của mình vào tháng 12 tới.


Theo Dow Jones - chủ sở hữu của tờ báo này, nguyên nhân của việc đóng cửa tờ báo là do khoản thua lỗ ngày càng tăng và lượng độc giả giảm dần.

 

Giao diện điện tử của FEER ngày 23/9/2009.

Tờ tạp chí 63 tuổi này do tập đoàn Dow Jone điều hành và có một vị trí đáng nể trong làng báo vì sự "can đảm" và các bài viết sâu sắc về kinh tế cũng như chính trị tại châu Á kể từ thế chiến 2.

Hồi năm 2004, Dow Jones đã cho hầu hết các phóng viên của FEER nghỉ việc và chuyển thành tạp chí hàng tháng. Chỉ có các biên tập viên chủ chốt được giữa lại.

David Plott - biên tập viên của FEER - mô tả bước ngoặt năm 2004 là sự tổn thất một trong "những nơi tập trung lớn nhất lượng tri thức và chuyên gia từ mọi nơi trên thế giới về khu vực châu Á ".

Quá trình chuyển nhượng tạp chí này diễn ra khi các nhà xuất bản bị hút về phía truyền thông trên mạng internet và lượng doanh thu từ quảng cáo sụt giảm nghiêm trọng. Năm 2001, tạp chí châu Á - một tuần báo nổi tiếng khác trong khu vực cũng phải đóng cửa sau hơn 20 năm hoạt động.

"Nghịch lý là, khi khu vực này càng trở nên quan trọng, thì lại càng ít các ấn phẩm có chất lượng tin bài tốt" - Hugo Restaill - biên tập viên của FEER nhận định.

"Nặng vía" với các chính phủ châu Á

Trong lịch sử của mình, các nhà báo điều tra và bình luận của FEER luôn có những bài viết sắc sảo và cả "ẩu đả" với các chính phủ châu Á. Tạp chí này đã bị cuốn vào một vụ việc liên quan tới pháp lý với chính phủ Singapore. Tòa án dân sự tối cao của quốc đảo này đã xét xử phiên tòa về vụ tạp chí này đã xúc phạm tới cựu Thủ tướng Lý Quang Diệu và đương kim Thủ tướng Lý Hiển Long.

 

Ngay sau đó, FEER đã chống án. "Nếu thua vụ này, câu hỏi đặt ra sẽ là liệu họ có thúc ép phán quyết tại Hong Kong hay không. Hẳn là nó sẽ tiếp tục". - Restall cho biết.

Một biên tập viên khác của FEER là Philip Bowring - cũng phải vật lộn với vụ kiện tụng này trước khi ông rời khỏi tờ báo. "Điều quan trọng là những kiểu "đánh đấm" này vẫn phải diễn ra, ngay cả khi bạn không thể thắng. Ít nhất thì bạn phải có một chiến trận tốt" - Bowring nói.

"Một điều mà tôi băn khoăn chính là thời điểm kết thúc vụ việc - liệu Singapore có từ bỏ vụ kiện hay không. (Rupert) Murdoch nói rằng ông ấy sẽ cho đóng cửa tờ tạp chí".

Trước đó, năm 1997, Singapore đã nới lỏng những hạn chế với FEER, cho phép phóng viên của tạp chí này được thường trú tại quốc đảo. Bộ Thông tin, Truyền thông và Nghệ thuật của Singapore cũng cho phép số lượng ấn phẩm của tạp chí được lưu hành tăng lên, từ 6.000 lên 8.000 bản/ mỗi số.

Nayan Chanda - một biên tập viên của tờ tạp chí rất hứng khởi trước quyết định này, cho rằng những biện pháp này đã đưa tạp chí "tiến gần hơn trong mối quan hệ thông thường và toàn diện về báo chí" với Singapore. "Chúng tôi chờ mong tới ngày mà lượng phát hành của tờ báo sẽ do thị trường ấn định, chứ không phải do chính phủ đặt ra".

Tạp chí đã đạt mức gần 10.000 bản/ mỗi kỳ tại Singapore trước khi chính phủ nước này giới hạn lượng phát hành vào năm 1987. Tuy nhiên, đến năm 2006, Singapore ban hành lệnh cấm tạp chí FEER sau khi tạp chí này không tuân thủ luật báo chí. FEER chỉ trích lệnh cấm này và coi đó là xâm phạm vào tự do ngôn luận và cho rằng cách thức tiếp cận của chính phủ Singapore đối với báo chí là "hà khắc".

Singapore đã hủy bỏ phê chuẩn cho tạp chí có trụ sở tại Hong Kong phát hành tại quốc đảo vì tạp chí này không thể bổ nhiệm một đại diện hợp pháp và trả khoản phí an ninh 126.000 USD. "Đây là một đặc quyền, và không phải là quyền cho các tờ báo nước ngoài phát hành tại Singapore. Nếu tờ báo nước ngoài nào không tuân thủ đúng luật... họ không thể có các quyền đó" - Bộ Thông tin, Truyền thông và Nghệ thuật cho biết.

Trước đó một tháng, Singapore cũng ban hành các quy định hạn chế với năm ấn phẩm khác của nước ngoài là: Review, Newsweek, Time, Financial Times và International Herald Tribune.

Theo luật của Singapore, các tờ báo nước ngoài phải có giấy phép để lưu hành ấn phẩm của mình tại quốc đảo và phải bổ nhiệm một đại diện là công dân của nước sở tại để nhận các thông báo, hoặc vấn đề liên quan tới pháp lý thay mặt cho tờ báo. Đồng thời, tờ báo cũng phải nộp 126.000 USD tiền cam kết với chính phủ.

Năm ngoái, FEER cũng bị đình bản số tháng 5 tại Trung Quốc vì đã "nặng lời" về Bắc Kinh. Hugo Restall không cho biết nguyên nhân, nhưng theo Micheal Ledeen - một học giả tại Học viện Kinh Doanh Mỹ, Bắc Kinh đã “phật lòng” khi FEER cho đăng bài viết “Trung Quốc đi theo chủ nghĩa phát xít cổ điển”.

Tờ báo "hiểu" châu Á

”Dow Jones không bao giờ hiểu được tờ tạp chí, hoặc kể cả châu Á” – Bertil Linter - một cây bút thường xuyên của FEER nói.

Hồi năm 2004, khi tuần báo FEER chuyển thành tạp chí tháng, tại câu lạc bộ dành cho các phóng viên thường trú tại Hong Kong và các quán bar ở Wan Chai, các nhà báo rên rỉ vì những "thiệt hại" phải gánh chịu: hơn 80% trong số các phóng viên và nhân viên hành chính giờ thất nghiệp. Và quan trọng hơn cả là, một tờ báo hàng đầu của châu Á Thái Bình Dương phải "im tiếng", không phải vì một chính phủ nào đó ở châu Á, mà chính là do "thành trì của tự do và tư bản" – đó là phố Wall.

Năm 2001, một “tảng đá lớn của Mỹ” là Time Inc - một đơn vị kinh doanh của AOL Time Warner Inc - dưới sức ép của các cổ đông, đã đóng cửa tạp chí Asiaweek có trụ sở tại Hong Kong sau hơn 26 năm hoạt động. “Dựa trên các nguồn hiện có của các nhật báo và các thông tin phân tích, tôi tin rằng kỷ nguyên cho các tuần tin trong khu vực, thậm chí xuất sắc như tờ FEER cũng đang cận kề những ngày chót” – Peter Kann - chủ tịch kiêm giám đốc điều hành cho biết.

Khi được chuyển sang thành tạp chí hàng tháng, Down Jones cho rằng FEER sẽ có phong cách giống như tờ Tạp chí Đối ngoại (có trụ sở tại New York). Tờ báo sẽ chỉ có hai biên tập viên chính và do Hugo Restall điều hành.

Khi đó, tổn thất của tạp chí được xem như là một bước lùi. Trong khi đó, một số nhà quan sát tại Hong Kong cho rằng, quyết định trên của tập đoàn để đóng cửa tờ báo chắc chắn sẽ được xem là một thắng lợi lớn cho một số quốc gia tại châu Á. Tại một số thời điểm, tờ báo đã bị đình bản tại một vài nước, thậm chí một trong những phóng viên xuất sắc của tờ báo cũng phải ngồi tù 6 tháng tại Malaysia.

Ban đầu, tạp chí nổi lên như là một nguồn thông tin tin cậy về châu Á trong suốt thời gian Derek Davies làm chủ bút (từ 1964-1989) và không tính toán nhiều đến vấn đề kinh doanh. Davis xây dựng nên tờ FEER từ một tuần báo còn non trẻ cho tới khi trở thành tạp chí hàng đầu trong khu vực,  với lượng phát hành lên tới 90.000 bản. Ở thời kỳ đỉnh cao của mình, FEER có một đội ngũ biên tập lên tới gần 100 người với 15 văn phòng đại diện trên khắp châu Á. So với các châu lục khác, đây là đội ngũ làm tin đông đảo nhất cho một tuần báo.

Davies thách thức các chính phủ tại châu Á và các công ty lớn trong các thời cơ lịch sử khi mà nhiệt tình đối với nền dân chủ phương Tây và tự do báo chí giảm sút, và mối quan tâm của khu vực là các giá trị phương Đông và nền báo chi theo định hướng phương Đông.

Trong suốt nhiệm kỳ của Davies, FEER tạo nên một diễn đàn tiên phong cho nhiều phóng viên tài năng như Ian Buruma, Nayan Chanda, Nate Thayer, Susumu Awanohara, Christopher Wood, Philip Bowring, T J S George và Mike O"Neil.

Châu Á mất đi một tiếng nói

Khi Dow Jones kiểm soát hoàn toàn tờ báo vào năm 1987 – tập đoàn này đã thu được 40% lợi tức của tờ báo vào năm 1973 và tiếp quản  51% phần sở hữu của tờ South China Morning Post. Tới năm 1992, Dow Jones dưới sự điều hành của cặp-vợ-chồng-chủ-tịch là Peter Kann và vợ là Karen Elliott House – đã chính thức tiếp quản việc xuất bản trong một cuộc tranh cãi gay gắt về đường hướng phát triển nội dung của tờ báo, mà sau cùng dẫn tới việc Davies và người kế vị của ông là Philip Bowring phải từ chức.

Dưới sự “giám sát” cẩn trọng về mặt biên tập của Dow Jones, các tiêu chuẩn đưa tin chính trị và kinh tế lỗi lạc của tờ báo trở nên nông cạn, hời hợt và trở lại phong cách nhạt nhẽo của Wall Street Journal. Lượng phát hành vẫn ì trệ ở mức 90.000 bản trong suốt 12 năm sau đó, và các bài đinh của báo dường như theo hướng các chuyện kinh doanh tầm phào thi thoảng mới có bên ngoài bờ Thái Bình Dương chứ không còn là những vấn đề bên trong một nước sở tại.

Tính từ năm 2008 trở về 6 năm trước, FEER đã thất thoát vào khoảng 48 triệu$ sau khi đội ngũ làm báo nhập vào với một tờ báo khác cùng hãng, là tờ Wall Street Journal vào cuối năm 2001.

FEER đã không thể tìm ra công thức tính toán cho việc bán quảng cáo và không hề có một website miễn phí nào. Những diễn biến đó diễn ra trong bối cảnh sức ép ngày càng tăng đối với tờ báo trong việc nâng vị thế của nó trên thị trường và ngăn chặn thua lỗ.

Gordon Crovitz – trong một cuộc phỏng vấn tại Hong Kong – là một ví dụ điển hình về việc Dow Jones đã “nhổ” các tài năng của mình từ New York và sau đó “thả” anh ta vào giới truyền thông hỗn loạn tại Hong Kong. Tại đây, anh ta nỗ lực để thu vén việc viết lách cho tạp chí và phải cùng lúc đóng 2 vai đầy mâu thuẫn – vừa làm biên tập, vừa lo xuất bản. “Tạp chí đã mất phương hướng vì những người ở New York nghĩ rằng họ hiểu các độc giả của mình muốn gì hơn là những người bản địa ở châu Á” – cựu biên tập viên Philip Bowring viết trên tờ South China Morning Post.

Chỉ 2 năm trước đó, Dow Jones cũng bỏ rơi tuần báo Asian Wall Street Journal – tờ báo cung cấp thông tin và phân tích kinh tế về khu vực châu Á – Thái Bình Dương cho khu vực Bắc Mỹ vào mỗi ngày thứ 2 hàng tuần. Lúc đó, Karen Elliott House – chủ tịch của Dow Jones Quốc tế tuyên bố: “Chúng tôi bất đắc dĩ phải kết luận rằng tuần báo không còn ý nghĩa về mặt kinh doanh cho Dow Jones”.

Sẽ chẳng có chuyện “Tái ông thất mã” đối với cái-chết-của-một-tờ-báo. Rất nhiều trang tin trong khu vực đã được xây dựng nhưng không tính đến việc châu Á cần có tiếng nói của mình trong mỗi bản tin. Có thể, những trang tin hiện nay do châu Á điều hành, các blogger của các nước sở tại và việc chọn lựa chất lượng cho các tờ nhật báo trong khu vực sẽ chỉ thêm được một phần không đáng kể lượng độc giả nhờ sự ra đi của FEER.

Tháng 4/2009, Tập đoàn Tribune Co. sẽ tiếp tục quản lý tài sản của các tờ báo và mạng điện tử trực thuộc.

Đầu năm 2009, tập đoàn này đã đóng cửa 12 tờ báo tuần ở Chicago, đồng thời cắt giảm 7% lương nhân viên của tờ Chicago Sun-Times nhằm tiết kiệm chi phí trong bối cảnh nền kinh tế suy thoái trầm trọng.
 
Đây là vụ xin bảo hộ phá sản mới nhất trong ngành công nghiệp báo chí Mỹ sau hàng loạt các vụ cắt giảm lao động, tuyên bố phá sản hoặc đóng cửa nhiều tờ báo in của các chủ báo tại Mỹ vì doanh thu quảng cáo sụt giảm mạnh do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính và sự phát triển của Internet.
 
Tháng 12/2008, tập đoàn Tribune Co. - chủ sở hữu của các tờ báo Chicago Tribune, the Los Angeles Times và the Baltimore Sun - đã đệ đơn xin phá sản.
 
Tháng 2/2009, E.W. Scripps & Co. (SSP) đã đóng cửa bản tin Denver"s Rocky Mountain News, Philadelphia Newspapers LLC and Journal Register Co. (JRCO) cũng nộp đơn xin phá sản khi không trụ vững được trước cơn bão khủng hoảng kinh tế.
 
Trong báo cáo 2009 về thực trạng truyền thông của nước Mỹ, Trung tâm nghiên cứu Pew ngày 17/3 đã cảnh bảo báo chí Mỹ đang trong tình trạng "gần như rơi tự do" và không còn nhiều thời gian để thay đổi mô hình kinh doanh và tự cứu mình.

(Theo Vietnam +)

  • Thu Lượng (tổng hợp)
* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu