Biển sóng, biển sóng
(TuanVietNam) - Chúng ta không thù hằn ai, nhưng chúng ta quyết và biết bảo vệ chủ quyền đất nước thiêng liêng của chúng ta - GS Tương Lai
“Biển sóng biển sóng đừng trôi xa. Bao năm chờ đợi sóng gần ta… Biển sóng biển sóng đừng xô nhau. Ta xô biển lại sóng về đâu? Sóng bạc đầu và núi chìm sâu. …”*.
Những rung động rất lạ trong cảm thức biển của người nhạc sĩ tài hoa ấy bỗng trở nên giục giã, xao động mỗi tấm lòng yêu nước Việt Nam khi mà vấn đề Biển Đông đang cuộn sóng. Xin mượn hình tượng giàu sức thăng hoa kia để gợi chuyện hôm nay, tuy biết rằng những cảm thức kia mang tính riêng tư. Nhưng thông thường, những tác phẩm nghệ thuật lớn luôn mang trong chúng những thông điệp vượt thời gian, không gian và vượt khỏi chủ định của tác giả. “Ngư ông và Biển cả” của Ernest Hemingway là một ví dụ.
|
|
|
Vùng biển đảo mà ông cha ta đã từng xác lập chủ quyền là lãnh thổ thiêng liêng mà mỗi người Việt Nam có nghĩa vụ giữ gìn như ông cha đã từng làm. |
Cảm thức biển của Trịnh Công Sơn cũng có dáng dấp của những thông điệp mang tính thời sự như vậy. “Bao năm chờ đợi sóng gần ta”! Đâu chỉ là chờ đợi. Mọi con tim yêu nước đang đập theo cùng nhịp sóng Biển Đông.
Bao đời đứng trước biển, “mỗi người Việt Nam dù sống ở đâu, ngay cả ở trên miền núi, hình như bao giờ cũng nghe được tiếng rì rào của biển cả ngày đêm không mỏi vỗ sóng vào bờ…Ngay cây rừng cũng mọc rậm rạp hơn ở hướng nhìn ra biển Đông và hướng nhà đâu đâu cũng quay về phía gió biển đến”**. Biển là một phần máu thịt của Tổ quốc, vùng biển đảo mà ông cha ta đã từng xác lập chủ quyền là lãnh thổ thiêng liêng mà mỗi người Việt Nam có nghĩa vụ giữ gìn như ông cha đã từng làm.
“Đại Việt Sử Ký Toàn Thư” chép : năm 1161, “Lý Anh Tông sai đô tướng Tô Hiến Thành và phó tướng Đỗ An Di đem hai vạn quân đi tuần tiễu ở các nơi ven biển miền Tây Nam để giữ yên cõi xa”. Năm 1171, vua “đi tuần các hải đảo, xem khắp hình thế núi sông, muốn biết dân tình đau khổ và đường đi xa gần thế nào”. Năm 1172, “mùa xuân tháng 2, vua lại đi tuần các hải đảo ở địa giới các phiên bang Nam Bắc, vẽ bản đồ và ghi chép phong vật rồi về”.
Liệu đây có phải là vị vua đầu tiên vẽ bản đồ đất nước? Có lẽ rõ nhất là tấm bản đồ hành chính đầu tiên của nước ta, bản đồ Hồng Đức được thực hiện dưới thời vua Lê Thánh Tông và rồi sau đó, Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ được thực hiện dưới thời Nhà Nguyễn năm 1838 đã dựa vào bản đồ Hồng Đức mà thể hiện hình hài đất nước theo phương vị nằm ngang, nhằm nhấn mạnh thế phong thủy “dựa núi, nhìn biển” với những quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được vẽ rất gần đất liền.
Để rồi, các thế hệ Việt Nam có thể “Đi lên non cao, đi về biển rộng”*. Và cũng từ đấy, hàng năm có lễ “khao lề thế lính Hoàng Sa” diễn ra từ đêm 19 rạng ngày 20 tháng 2 [âm lịch] để cầu chúc cho các đội dân binh được nhà nước cấp cho 6 tháng lương thực để đi làm nhiệm vụ ở Hoàng Sa.
Họ mang trong tim truyền thống quật cường của dân tộc. Họ nhớ ông cha mình từng quyết định số phận của đạo quân xâm lược vốn kiểm soát một vùng lãnh thổ rộng lớn trải dài từ bờ Thái Bình Dương đến bên kia Hắc Hải bằng đòn quyết chiến chiến lược trên sóng nước Biển Đông, nơi cửa sông Bạch Đằng. Mà sóng Bạch Đằng đâu chỉ cuộn lên một lần trong lịch sử!
Có chuyện đó vì từ thời kỳ cổ đại, ở khu vực mà ngày nay chúng ta gọi là Đông Nam Á được các nhà hàng hải và các thương nhân mô tả như là một vùng đất cực kỳ giàu có. Nhà văn và nhà khoa học cổ La Mã Plinius (23-79 sau CN) viết rằng “đất ở đấy là đất vàng đất bạc”! Việt Nam là một bộ phận của bán đảo truyền thuyết đó. Di chỉ Óc Eo cho thấy dấu vết của những thương nhân các nước từng đến bán đảo này. Các thuyền buôn Trung Hoa cổ đại, từ Java (Indonesia) và Mã Lai cũng đã đến đây từ Biển Đông.
Vị trí địa-chiến lược của Việt Nam càng nổi trội lên khi mà bờ biển của nước này dài đến thế với những vịnh, những cảng lý tưởng cho tàu buôn neo đậu cũng như các hạm đội trú ẩn. “Phúc trung hữu họa”, cho nên ông cha ta luôn răn dạy con cháu không một phút giây lơi lỏng chuyện bảo vệ chủ quyền đất nước.
Từ thuở ấy cho đến Hiến chương của khối ASEAN công bố cuối tháng 11.2007, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong sự phát triển của khối đoàn kết Đông Nam Á như một thực thể với tiếng nói có trọng lượng trong đời sống quốc tế. Khối đoàn kết đó có ý nghĩa lớn trong tình hình tranh chấp trên Biển Đông từng lúc dịu đi, từng lúc nóng lên tùy theo mức độ cuốn hút của tỷ lệ trữ lượng tài nguyên nằm dưới thềm lục địa vừa phát hiện thêm, và tương quan của thế và lực trong bối cảnh quốc tế.
Động thái vừa rồi của Việt Nam và Malaysia cùng đệ trình lên LHQ hồ sơ chung về thềm lục địa mở rộng với liệt kê phần lớn những phần lãnh hải thuộc chủ quyền mỗi nước là sự ghi nhận một cố gắng lớn trong việc giải quyết những tranh chấp trên Biển Đông một cách hợp lý, hợp tình.
Thế rồi hôm nay, “Những dòng sông nối đôi tay liền với biển khơi. Con sông là thuyền. Mây xa là buồm. Không hẹn mà đến . Không chờ mà đi”*. Đi về phía biển! Đó là cái thế chiến lược của cả dân tộc trong thời đại của thế kỷ XXI. Nhưng muốn vậy thì phải có bản lĩnh “sóng cả không ngả tay chèo”!
Bản lĩnh ấy được hun đúc nên từ khí phách của Bà Triệu “muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp đường sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông”. Để rồi hôm nay “Nhắc lời thiên thu. Nhớ ngàn năm trôi qua.… Biển sóng, biển sóng đừng âm u, Đừng nuôi trong ấy trái tim thù”*.
Chúng ta không thù hằn ai, nhưng chúng ta quyết và biết bảo vệ chủ quyền đất nước thiêng liêng của chúng ta.
GS Tương Lai
____________________________________
* Trịnh Công Sơn. “Sóng về đâu”, “Bốn mùa thay lá”
** Lê Bá Thảo. “Thiên nhiên Việt Nam”. NXB Khoa học và Kỹ thuật. Hà Nội 1990. tr.8
|
Các lực lượng bảo vệ chủ quyền trên biển có trách nhiệm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia trên biển Việt Nam. Trong tình hình hiện nay, theo tôi, những người dân đi đánh bắt cá trên biển phải biết được mình hoạt động trên vùng biển nào. Nếu đúng trên vùng biển của Việt Nam thì việc lực lượng nào đó của nước ngoài lại can thiệp, ngăn chặn ngư dân Việt Nam đánh bắt hải sản thì đó là xâm phạm chủ quyền của Việt Nam. - Ông Lê Quang Bình, chủ nhiệm uỷ ban Quốc phòng an ninh của Quốc hội. “Ngăn cản ngư dân Việt Nam đánh bắt trên biển Việt Nam là xâm phạm chủ quyền…” (Sài Gòn tiếp thị, 5/6/2009) Trong khi chờ đợi một giải pháp bảo vệ ngư dân toàn diện từ các cơ quan chức năng, thời gian qua, ngư dân các tỉnh miền Trung đã biết liên kết lại để tự cứu mình. Phú Yên là tỉnh đầu tiên trong cả nước giúp ngư dân liên kết với nhau thành tổ để hỗ trợ nhau trong đánh bắt và tham gia cứu hộ, cứu nạn trên biển. Kể từ năm 2005, Bộ đội biên phòng Phú Yên thí điểm mô hình "Tổ tàu thuyền an toàn" (TTAT) ở thôn Phú Thọ 3 (xã Hòa Hiệp Trung, H.Đông Hòa). Mô hình này đang mang lại hiệu quả thiết thực. Hiện nay, Phú Yên đã thành lập được 99 "Tổ tàu thuyền an toàn" với 900 phương tiện, hơn 10.000 thuyền viên tham gia. Ngư dân bị chặn đường ra khơi: Liên kết để tự cứu mình (Thanh niên, 7/6/2009) Ông Nguyễn Sự, Anh hùng lao động, Bí thư Thành ủy Hội An (Quảng Nam) nói với chúng tôi. Và ông tiết lộ: “Cách nay khoảng 7 năm, và thỉnh thoảng sau này, tàu cá Trung Quốc xâm nhập vùng biển Việt Nam, trong đó có vùng biển Cù Lao Chàm đánh bắt cá cam. Lực lượng biên phòng đã xua đuổi, tịch thu một số ca nô tang vật. Chúng tôi ý thức rằng bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên đồng nghĩa bảo vệ chủ quyền quốc gia. Chúng ta không xâm phạm chủ quyền ai cả nên cương quyết không để ai xâm phạm chủ quyền của chúng ta”. Ngư dân bị chặn đường ra khơi: Mỗi tấc đất, mỗi mét nước là máu xương dân tộc! (Thanh niên, 7/6/2009) Chúng tôi đề nghị là nếu có chuyện ngư dân đánh bắt trên vùng biển thuộc chủ quyền VN mà phía họ gây ra chuyện gì đó thì sẽ phải yêu cầu họ bồi thường vì họ đã xâm phạm vào vùng biển của chúng ta, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ngư dân chúng ta. Nguyễn Việt Thắng, Chủ tịch Hội nghề cá VN, trả lời phỏng vấn của Báo Thanh Niên xung quanh việc Trung Quốc có lệnh tạm cấm ngư trường khiến một bộ phận ngư dân miền Trung phải nằm bờ giữa mùa đánh bắt cá. Ngư dân bị chặn đường ra khơi: Đói trong mùa cá (Thanh niên, 6/6/2009) |
