Báo chí và cú hích của thị trường
Niềm hạnh phúc được đối thoại với công chúng thường xuyên là động lực chính để nhà báo có thể làm việc say mê và quên bớt những hiểm nguy, trở lực. Cú hích từ công chúng đối với báo chí – chính là cú hích của thị trường.
>> Lê Thọ Bình: "Hích" phóng viên bằng đào tạo
>> Dương Minh Việt: "Tôi chọn tờ báo sống!"
>> Tôi chọn tương lai cho tôi
Tôi muốn quay trở lại khởi điểm của chuyên đề mà Tuần Việt Nam đang đặt ra là bài viết của tác giả Đỗ Chí Nghĩa: “Báo chí Việt Nam xin hãy hích tôi”. Bài viết thu hút tôi không chỉ vì quan điểm, cách nhìn và lập luận và còn vì nhiệt huyết của người viết đối với nghề báo: Khao khát đổi thay cho từng trang báo và nhà báo.
Ai tạo ra cú hích cho cả nền báo chí, cho mỗi một cơ quan báo chí và cho từng nhà báo? Ngoài nỗ lực tự thân, chúng ta còn vô hình trung chờ đợi hoặc đã tiếp cận với một cú hích vô hình khác – nhưng rất quan trọng – đó là thị trường. Tuần qua, trong các cuộc chuyện trò với một đồng nghiệp ở TP.HCM, dù tôi có thử cố gắng lái câu chuyện theo hướng nào, rốt cuộc, anh ta cũng chỉ “áp” vào chuyện báo anh ta mới tăng kỳ, về lượng phát hành của từng số báo.
Nỗi ám ảnh về “không khí” của sạp báo, về chuyện tin sốt, bài viết hay “báo họ có mà sao mình không có” luôn thường trực đối với những người làm báo – mà ấn phẩm của họ được người đọc trả tiền mua.
![]() |
|
Đời sống báo chí chịu ảnh hưởng tác động của thị trường |
Xin ai đó đừng có cách nghĩ áp đặt rằng: áp lực viết cho số đông sẽ sản sinh ra những toà soạn làm báo kiểu lá cải, những cây bút giật gân câu khách.
Trái lại, một khi bắt đầu viết những con chữ đầu tiên cho một bài báo, nếu nghĩ rằng: sẽ có hàng triệu người đọc bài báo của mình, người ta sẽ nỗ lực hơn để tìm ra ý tưởng mới, chắt chiu chi tiết và thận trọng hơn với từng con chữ. Nhờ đó, toà soạn và độc giả sẽ có một bài báo hay.
Sẽ chẳng ai dại gì viết ẩu để có hàng chục lỗi chính tả khi mà họ biết chắc rằng, trong số hàng triệu độc giả, sẽ có không ít người khó tính, đọc đến đâu “nhặt sạn” đến đấy. Cũng chẳng dễ chịu chút nào khi tên một nhà báo nổi tiếng, một ngày nào đó nhận được một cuộc điện thoại của người quen: “Dạo này cậu viết xuống tay quá”, hoặc “cái ảnh trang bìa của cậu kỳ này xấu quá…”.
Nói như vậy không có nghĩa là cứ nỗ lực và cẩn thận sẽ có những bài báo hay. Nhưng chắc chắn, những tờ báo đòi hỏi phải có bài báo hay, trang báo trình bày đẹp, bố cục chặt chẽ (để bán được) sẽ sàng lọc, đào thải những nhà báo không thể làm nên điều ấy.
Quy luật đào thải, theo tôi, ở góc độ này có thể là nghiệt ngã nhưng công bằng. Một tổng biên tập dù muốn cũng khó giữ lại người nhà làm việc kém; bởi nếu làm thế, những nhà báo khác sẽ không còn nghe lời họ để nỗ lực hết mình vì tờ báo, những người làm kém khác có chỗ để so sánh và hi vọng rằng mình có thể tồn tại nhờ những khoảng tối. Mà nhiều người không hết mình, độc giả sẽ quay lưng.
Những đồng nghiệp làm việc trong các báo không phải lo bán báo, bán quảng cáo mà vẫn có tiền trả lương, trả nhuận bút chắc chắn sẽ không phải chịu áp lực của thị trường. Trung Quốc đã có lý khi xoá bỏ 600 tờ báo không có hiệu quả.
Một khi còn có quá nhiều tờ báo được bao cấp, không có hiệu quả vẫn tồn tại thì sẽ có những toà soạn làm việc theo kiểu bao cấp. Những toà soạn như vậy không thể tạo ra cú hích đối với những thành viên của họ - trong đó có những nhà báo.
Nếu bạn đã từng làm trong những toà soạn, cơ quan truyền thông có đông đảo “khách hàng” (là độc giả, thính giả, khán giả) sẽ khó mà quên được áp lực và cả sự… khoan khoái là mình đang đối thoại với hàng vạn, hàng triệu người. Cảm giác đó đeo đẳng một số nhà báo ngôi sao (theo nghĩa tích cực) đến mức trở thành áp lực cho những lãnh đạo cơ quan báo chí nào đó nơi người ta chuyển dịch đến.
Tôi có một người bạn từng làm ở một trong những tờ báo đông người đọc nhất nước, ở đó anh ta từng là một ngôi sao, có những bài báo “đóng đinh” trong lòng nhiều người đọc. Sau đó, vì vài lý do lãng xẹt, anh ta chuyển về một tờ báo chưa nổi tiếng. Điều làm nhà báo này khổ sở nhất không phải vì thu nhập. Cứ mỗi buổi sáng, anh ta thường ra sạp, mân mê một số tờ báo nằm trên sạp, đọc những bài trên đầu trang nhất. Rồi lẩm bẩm: “Chúng nó làm không hay hơn mình thế mà…”. Cái cảm giác làm một phỏng vấn độc quyền, viết thật cẩn thận rồi ngày hôm sau không một ai nhắc đến vì nó được đăng trên một tờ báo ít người đọc khiến anh chán nản.
Sẽ có một số nhà báo giỏi chọn giải pháp: ăn lương tờ báo ít người đọc, làm việc cầm chừng ở đó và viết những bài báo hay trên báo nổi tiếng. Đó là sự chuyển dịch tương đối, họ đến với công chúng bằng cách ‘tựa” vào một tờ báo có đông người đọc. Nếu là một nhân sự quan trọng, đủ sức gây ảnh hưởng và có một êkíp làm việc tốt, họ sẽ ở lại để góp từng bài báo, từng trang báo để tạo cú “hích” cho thương hiệu của của tờ báo đó. Nhưng không ít người làm được việc này. Đa số các nhà báo có tham vọng thay đổi thường tìm cách tạo cú hích ở một cơ quan báo chí mới. Rất nhiều sự chuyển dịch này đã tạo ra những cú hích cho cả làng báo.
Sự chuyển dịch dù cách này hay cách khác của nhân sự làng báo cũng khiến cho một vài tổng biên tập nỗ lực để đưa tờ báo của mình chen chân vào nhóm những tờ báo đông người đọc. Trên lộ trình đi đến với số đông độc giả, những cơ quan báo chí đó đã giữ chân và lôi kéo thêm được những nhà báo giỏi.
Nếu hay ra sạp báo, chăm xem truyền hình các kênh, các Đài, thường xuyên đến các quán café là nơi tụ tập thường xuyên của các nhà báo…, bạn sẽ nhận ra sự tác động dù âm thầm nhưng dữ dội của thị trường lên đời sống báo chí. Nhìn tổng quan, theo tôi, đó là sự tác động rất tích cực.
Tôi đồng ý với nhiều đồng nghiệp là: ngoài ý nghĩa là làm để kiếm sống ra, nghề báo còn có những ý nghĩa đặc biệt. Niềm hạnh phúc được đối thoại với công chúng thường xuyên là động lực chính để nhà báo có thể làm việc say mê và quên bớt những hiểm nguy, trở lực. Cú hích từ công chúng đối với báo chí – chính là cú hích của thị trường.
- An Nhi
