Bắt đầu từ một dòng sông…
Sự sống của một dân tộc, bao giờ cũng phải đánh đổi bằng sự sống của rất nhiều người con của dân tộc ấy. Đó vừa là lịch sử, cũng vừa là quy luật của lẽ sinh tồn trong cái thế giới vừa vĩ đại, vừa đầy bi thương và hiểm họa này. Nhưng vì thế, dân tộc không bao giờ quên ơn họ
Cuộc đời làm báo đã cho tôi đi qua không biết bao nhiêu dòng sông: Sông Hồng, sông Cầu, sông Đà, sông Bằng, sông Mã, sông Son, sông PôKô...Có dòng sông dữ dội, có dòng sông hiền hòa. Có dòng sông như tình tứ, cũng có dòng sông như trầm tư. Có dòng sông chảy thiết tha, và cũng có những dòng sông gập gềnh đèo thác...
Nhưng ám ảnh và bất ngờ với tôi nhất, lại là một dòng sông mang tên dân dã- Vàm Cỏ Đông.
Hơn 30 năm trước đây, lần đầu tiên bước chân vào Sài Gòn- tôi, dân Hà Nội đặc sệt, tóc tết đuôi sam, ngỡ ngàng giữa một SG cũ vương vấn vẻ hoa lệ. Giữa một hội nghị ngành giáo dục, nam giới mặc sơmi, cavát, nữ giới thấp thoáng áo dài, ông xuất hiện trước mặt tôi với một phong thái đặc biệt: Mũ tai bèo, bộ quần áo cỏ úa, chiếc xà cột lủng lẳng, dôi dép râu và nước da đen đúa khắc khổ.
"Chị là nhà báo ở Hà Nội vào?". "Dạ". "Các nhà báo toàn đi những nơi thuận lợi như Bến Tre, Cần Thơ. Chả ai dám về tỉnh khó khăn". Một thoáng tự ái nghề nghiệp trong tôi... "Anh ở đâu ạ?". "Tôi ở Tây Ninh".
Hóa ra ông chính là Trưởng Ty GD Tây Ninh. Lúc đó, Tây Ninh là tỉnh có chiến tranh biên giới tây- nam, và đang bị Khơ Me câu pháo dữ dội. Ông tên là Diễm. "Tôi sẽ đi với anh. Anh cho tôi về Tây Ninh công tác!". Tôi buột miệng, và ông thì hơi sững sờ. Rồi ông gật đầu: "Được, mai tôi sẽ đón chị!"
Không phải không có lúc tôi hơi e ngại về cái ý định của mình. Hòa bình rồi. Còn nơi tôi sắp đến lại là nơi chiến tranh. Cái sống, cái chết giáp ranh nhau.. Không hiểu sao, buổi chiều trước lúc lên đường, tôi đã viết cho chồng tôi một lá thư dặn dò mọi việc cặn kẽ. Hình ảnh đứa con trai mới 1 tuổi rất kháu khỉnh hiện lên trong óc, khiến tôi nghẹn ngào. Nhưng tôi không có quyền thay đổi. Lý trí và sự ương bướng của nghề mách bảo thế.
Vậy nhưng hóa ra, chuyện tôi đi cơ sở, ông đã phải tính toán rất cẩn thận. Đã cử người đưa tôi đi Tân Biên, vùng biên giới, ra đến cửa, ông gọi lại đề nghị thay đổi. Vì lúc đó, trên Tân Biên báo về, đang bị pháo kích dữ dội, ông chỉ cho tôi đi Trảng Bàng để bảo đảm an toàn.
Sông Vàm Cỏ Đông. Ảnh: thuanviettravel.com
Bất ngờ nhất, tôi đã xúc động đến lặng người khi lần đầu tiên ngồi trên xuồng đuôi tôm, xuôi theo dòng sông, được tận mắt ngắm nhìn dòng sông ấy, xưa tôi đã hát không biết bao lần: "Ở tận sông Hồng em có biết/ Quê hương anh cũng có dòng sông/ Anh mãi goị với lòng tha thiết/ Vàm Cỏ Đông, ơi Vàm Cỏ Đông"...Đâu đó, có tiếng pháo ì ầm, như tiếng sấm xa xa...
Và đứa con gái cực kỳ lãng mạn là tôi, ngay trên chiếc xuồng đuôi tôm mảnh mai giữa sông nước, đã lấy giấy bút viết thư cho một bạn đồng nghiệp, khi đó cũng mới bước chân vào nghề, để chia sẻ cái cảm xúc nghẹt thở, mà hân hoan và cảm động quá của mình, về một dòng sông trong âm nhạc, lần đầu tiên, hiển hiện trước mắt. Tôi đã cúi xuống vốc nước, để tin đó là điều có thực.
Sông- cũng như nội tâm con người, đoạn khép nhỏ, kín đáo lặng lẽ, giữa hai bờ cỏ dại, đoạn đột ngột rộng mở chan hòa với thiên nhiên, với đất trời khoáng đạt...
Bỗng nhớ về tuổi thơ được học không ít những bài văn trong sách giáo khoa, trên ghế nhà trường về lòng yêu nước. Nhưng phải khi ngồi trên chiếc xuồng của mảnh đất miền Đông Nam Bộ, được tận mắt ngắm nhìn con sông bồng bềnh sóng nước, dòng sông ấy đang chở tôi đi...tôi mới nhận ra, mình yêu đất nước của mình biết bao.
Tôi vẫn nhớ như in, nhớ rất rõ cái cảm xúc mới lạ chưa từng biết, đập rưng rưng trong con tim mình...
Hai bên bờ, những rặng dừa nước, thứ cây phổ biến của đất phương Nam ngút ngàn ken đặc. Thỉnh thoảng có những ngôi nhà mái lá chạy soải ven sông. Và bất ngờ nữa, tôi đã bắt gặp ở đây những rặng trâm bầu: "Cho em hỏi rằng có ở nơi đâu/ Bát ngát xa trông những rặng trâm bầu...".
Để mê mải ngắm những rặng cây, lá xanh miên man, có hình dáng như lá trầu không, hoa tím phớt, mà lúc đầu hơi thất vọng, vì thấy nó bình thường quá đỗi, ko có chút gì đặc sắc như trí tưởng tượng lãng mạn của mình- của tuổi thiếu nữ 17- 18 ngày nào, cực kỳ trong trẻo và cũng buồn cười.
Nhưng khi được nghe bà con cô bác kể rằng, những ngày chiến tranh gian khổ, nhiều du kích mình nghiện thuốc lá nặng quá, đã phải lấy lá trâm bầu thái ra, phơi khô, cuốn thành thuốc hút, tôi bỗng nhìn trâm bầu với con mắt khác hẳn. Giống như một sự biết ơn, một sự cảm kích loài cây dung dị mà không vô vị. Tôi thích những vẻ đẹp có ích, và bền lâu, cho dù sự có ích ấy, chỉ là những sợi lá khô xén nhỏ quăn queo, giúp quân ta vượt qua cơn thèm thuốc, quên đi cái đói, cái hiểm nguy luôn rình rập, trong những ngày quần nhau với giặc.
Buổi tối trước khi trở về SG, ông Diễm mời tôi ăn cơm. Chỉ có hai người, một già, một trẻ. Một đã xế chiều, một đang rạng ngày. Bữa cơm chia tay, có món canh chua cá lóc Nam Bộ, thịt bò sào trái thơm (dứa) ngon tuyệt.
Đột nhiên ông hỏi: "Chị làm báo được mấy năm rồi?". Tôi hoảng quá. Hay khi đi cơ sở, mình có gì thất thố chăng? Rụt rè: "Dạ, được 2 năm rồi anh ạ!". "Tôi rất cảm ơn, chị đã dám về đây vào lúc này. Nhà báo là cán bộ thì phải thế. Phải đi với dân, để hiểu dân, chia xẻ khó khăn với dân. Nhưng tôi chỉ khuyên chị- không nên đi miền núi và miền Nam một mình!".
Tôi trố mắt, ngỡ ngàng. "Khi ở R, tôi từng chôn không biết bao nhiêu cậu lính trẻ. Có nhiều đứa hôm trước, còn nhổ tóc sâu, tóc bạc, bố bố con con với tôi. Hôm sau đã nằm xuống. Và tôi là người phải vuốt mắt, chôn cất chúng nó. Nên tôi tiếc cho những đầu xanh tuổi trẻ lắm".
Giọng ông nghẹn lại. Mắt ông ngân ngấn. Giọng ông nói với tôi, không phải là của một cán bộ lãnh đạo với một nhà báo, mà như của một người cha nói với con, với đứa con gái của mình.
Những rặng trâm bầu, lá xanh miên man, có hình dáng như lá trầu không, hoa tím phớt...
Ảnh: vi.wikipedia.org
Tôi đã bị ám ảnh rất lâu về câu nói của ông, mỗi khi thấy mình trên chặng đường công tác, trong chiếc xe U- oát nhảy chồm chồm giữa núi rừng điệp trùng phía bắc, chỉ thấy cây rừng nối tiếp cây rừng, như mê hồn trận. Hay trong những chuyến xe công tác, hàng tháng trời lên dốc xuống đèo trên những cung đường đất đỏ Tây Nguyên.
Và nghĩ miên man, về những đầu xanh tuổi trẻ trong cuộc chiến giành độc lập tự do của dân tộc, đã nằm lại đâu đó, trong những cánh rừng xăng lẻ của dãy Trường Sơn. Họ nằm lại dưới những dòng sông như con sông Vàm Cỏ Đông, tôi mới chỉ một lần gặp mà đã thấy nặng lòng?
Hay họ nằm lại dưới dòng sông Thạch Hãn, dưới Thành cổ Quảng Trị, mà có một buổi chiều xanh ngắt, đứng trước bức phù điêu tạc những sinh viên phải cầm súng thay cho cầm bút, ra đi không trở về, tôi đã xúc động rơi nước mắt. Họ, những người tuổi trẻ đã vĩnh viễn nằm lại, để Đất nước đứng lên.
Và dịp 27-7 này, tình cờ tôi đọc trên mạng bài viết của một sĩ quan quân đội đã nghỉ hưu. Tôi không biết ông, chưa từng gặp mặt, chỉ biết ông là cháu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Bài viết của ông thấm đẫm tình yêu thương với người chị gái tên Bạch Cúc- đóa cúc trắng ngần, thanh khiết như tuổi 20 của chị mà sự sống vĩnh viễn ngưng lại trong khói lửa cuộc chiến tàn khốc. Thấm đẫm tình yêu thương xa xót, với hai người cha- cha đẻ, cha nuôi, đều là những cán bộ cốt cán tham gia trận chiến. Một người là Trưởng Ty Thuỷ sản (Giám đốc ngư trường Sông Gianh), chỉ huy một con tàu đóng giả tàu cá thâm nhập địa phận Sơn Trà để dò đường cho các tàu khác tiếp tế vào Nam. Một người là cán bộ biệt phái, nhận hàng viện trợ tại Cảng Hải Phòng.
Bom đạn đã không chạm nổi vào họ, những người cán bộ quả cảm, nhưng họ lại mất đứa con gái đẻ- con gái nuôi, đầu xanh yêu dấu. Sự hy sinh của họ cho đất nước, không chỉ bằng mồ hôi lao động, sự hiểm nguy của số phận mà còn bằng đứa con ruột rà, tươi trẻ, thiết tha.
Sự sống của một dân tộc, bao giờ cũng phải đánh đổi bằng sự sống của rất nhiều người con của dân tộc ấy. Đó vừa là lịch sử, cũng vừa là quy luật của lẽ sinh tồn trong cái thế giới vừa vĩ đại, vừa đầy bi thương và hiểm họa này. Nhưng vì thế, dân tộc không bao giờ quên ơn họ.
Đời nhà báo những tháng năm xưa cũ, gian nan, vất vả lắm. Còn đời nhà báo những năm tháng này day dứt lắm. Nhưng mỗi lúc thất vọng và mệt mỏi vì sự biến ảo của cái xấu, cái ác, không hiểu sao tôi lại nhớ câu nói của ông, người Trưởng Ty GD năm xưa, nay đã khuất núi "Nhà báo... thì phải đi với dân...". Đi với dân, cũng tức là đi với dân tộc. Chỉ dân tộc là trường tồn mãi mãi.
Và cuộc sống cũng không bao giờ chỉ có một gương mặt.
Như dòng sông Vàm Cỏ Đông, có bên lở, bên bồi. Thì dân tộc này, đất nước này cũng vậy, nhất định sẽ đi qua mọi khổ đau, mọi tụt hậu, mọi sự giả trá, đồi bại. Bởi "bên cỏ dại, hoa sẽ vẫn nở rạng ngời và kiêu hãnh"!
Với riêng tôi, niềm tin an lành ấy, lại bắt đầu từ một dòng sông...