Khi “nét thảo tài hoa lại sáng bừng"
Nguyễn Bá Chung là nhà thơ của lý tưởng (tôi không nói “có lý tưởng”) , tác giả có nhu cầu – và mải miết truy cầu – cái “tuyệt đối”.
Nguyễn Bá Chung là nhà thơ của lý tưởng (tôi không nói "có lý tưởng") , tác giả có nhu cầu - và mải miết truy cầu - cái "tuyệt đối".
Cái "tuyệt đối" là không gian, vũ trụ bao la.
Khi" nắng chiều... gọi" thì nhà thơ thấy "ánh mắt huyền vũ trụ mải bao la" (tr.100)
Và khi kẻ tình si đợi chờ trong "hoang vu" thì cả "hành tinh đợi chờ", "vũ trụ chết," câm lặng.
Cái "tuyệt đối" là "cỏ bên đường xanh" thì "xanh ngàn nỗi xa xăm" và "góc đồi" xa thì "xa vạn trùng xa" (xem tr.104)
![]() |
| Nhà thơ Nguyễn Bá Chung. Ảnh: Lê Anh Dũng |
Là không gian bao la, cái tuyệt đối trong thơ Nguyễn Bá Chung còn là "thời gian vĩnh cửu"
Có những "nỗi khắc khoải dậy từ muôn kiép trước", có những "tiếng kêu từ thuở đất xa trời" (xem tr.66) Đêm "chết lạnh với sương đêm" dài vô tận: "cóng tiếng vọng ngàn năm lạc chợ" (tr.98)
"Ngàn năm" là thước đo thời gian của nhà thơ."
Tôi vẫn là người của ngàn năm cũ
Tuối ngàn năm đến từ buổi sơ sinh (tr.99)
Trả lại cho ngừơi vết thương ngày cũ
Tuổi ngàn năm đau nỗi nhớ ngàn xa (tr.102)
Ngàn năm lặng - ba đào ai biết
Vẫn tinh mơ dấu cỏ đường xưa
tay nắm lại tình người vạn cổ
....................................(tr.72)
"Ngàn năm" cũng là thước đo "cõi tình".
Em ngàn năm bão rớt
Thổi vui buồn sáng nay (tr.40)
Em đi lại trong ngàn năm thức ngủ
Đã nhẹ tan như sương nắng trong hồn (tr.23)
Cây đứng đợi ngàn năm ôm tiếng vọng
Bóng thiên đàng lấp lửng một trời sao... (tr.83)
Mải miết truy cầu "tuyệt đối" truyền cảm hứng lãng mạn mãnh liệt vào thơ Nguyễn Bá Chung, cái lãng mạn lùa những cơn "gió lạ bỗng mênh mông", rất khác cái lãng mạn của những kẻ "đem mơ mộng bán cho trần thế" đầy rẫy trong văn chương bất kể thời đại nào.
Trong tập thơ Nguồn có những "câu thắt ruột" và có những "lời gió ru".
Tôi đứng chết như cây trời chết đứng
Trả lại không gian mọi lá ưu phiền
Rễ gục xuống tận đáy cùng đất mục
Quấn lại nguồn nhung nhớ một chồi non (tr.99)
![]() |
| "Siêu thoát" xuất thần từ những hiện tượng hết sức bình thường trong thiên nhiên quanh ta: từ "cành hoa trước gió", từ "lá rụng ban đêm", từ " mong manh... lá cỏ". Ảnh: nhacvietplus.com.vn |
Trong đoạn thơ này ba câu thơ đầu là những câu"thơ thắt ruột":hai lần "chết", "mọi lá u phiền" và "gục xuống tận đáy cùng"; câu thứ tư là "là lời gió ru": "quấn lại nguồn" và "nhung nhớ một chồi non". Tác giả đặt tên "Nguồn" cho tập thơ, phải chăng vì "nhớ đến nguồn", "trở về nguồn", "quấn lại nguồn" là cảm hứng thiết tha, sâu kín nhất của tác giả?
Những câu thơ "thắt ruột" thường có liên quan đến hai mô típ , trở đi trở lại nhiều lần trong tập thơ.
Mô-típ "chết":
"Nắng heo may nghiêng ngả chết bên rừng" (tr.58)
"Tiếng chim xưa đã chết đỉnh rừng già" (tr.58)
"Những nỗi buồn làm chết cả không gian" (tr.69)
"Người đứng đó, thời gian đã chết" (tr.15)
Mô- típ "đổ gẫy":
"Đường mộng dài gẫy đổ với phù vân" (tr.60)
"Đường củi mục có màng chi gẫy đổ" (tr.10)
Trong thơ Nguyễn Bá Chung, "chết" không nhất thiết là "hư vô', "tịch diệt"
Tôi ngơ ngẩn nhìn cành hoa trước gió
Tôi bàng hoàng nghe là rụng trong đêm
Để cuồng si ghì hoa đời vụn vỡ
Sống tận cùng với nỗi chết trong tim... (tr.68)
Như vậy,"chết"còn là nguồn để sống và "sống đến tận cùng"
Cũng vậy, "gẫy đổ" không nhất thiết là sụp đổ, tan nát và tiêu ma.
Càng gẫy đổ niềm thương càng sâu lắng
Và đau thương là hạnh phúc muôn phần. (tr.26)
Trong những tập thơ trước của Nguyễn Bá Chung, mô-típ chủ đạo là "đời và siêu thoát". Trong tập này, cũng mô-típ ấy nhưng có biến thức một chút: "tục lụy và siêu thoát".
Có tục lụy của sự bất đắc chí:
Thương người cô sĩ gươm sông lạnh
Ngồi đón giao thừa nén xót xa (tr.63)
Có tục lụy của miệng đời thị phi:
đường thị phi người thường nếm đủ
...........................................
bao vay mượn chia dòng lịch sử
bao si cuồng ngự trái tim non (tr.73)
Đau thương, vật vã nhất vẫn là tục lụy "tình yêu"
Thường thì ê chề tục luy, người ta mới nghĩ đến đường tu đặng siêu thoát. Trong thơ Nguyễn Bá Chung, có sự siêu thoát ngay trong "những cơn đau", "những nỗi buồn", "những âu lo", "những xót xa", "những lầm than"... của tục lụy.
Tôi ca ngợi cuộc đời còn rách nát
Vì trong tôi vẫn còn chút lửa tàn
Đã bùng cháy đêm hồn hoang gió tạt
Dạy cho tôi ý nghĩa của lầm than (tr.69)
Từ ánh sáng của "chút lửa tàn" "bùng cháy đêm hồn hoang gió tạt", ngay trong "lầm than" (tục lụy), nhà thơ hiểu ra "ý nghĩa của lầm than" (siêu thoát)
Tôi là người của những buổi chiều
Hoàng hôn xuống vẫn nhớ phương trời mọc (tr.103)
"Hoàng hôn" (từ này được nhắc đến nhiều lần) là "tục lụy", "nhớ phương trời mọc" là "siêu thoát"
Dù khổ đau, dù sóng gió, muộn phiền
Vẫn thầm lặng nở hương trầm rất lạ (tr.103)
"Khổ đau", "phiền muộn" là "tục lụy", "Vẫn thầm lặng nở hương trầm rất lạ" là
"siêu thoát" (tr.103)
Trong thơ Nguyễn Bá Chung, sự "siêu thoát" diệu kỳ mà vô cùng giản dị.
Càng lớn lên tôi càng hiểu bình thường
Điều kỳ diệu mong manh trên lá cỏ (tr.103)
"Siêu thoát" xuất thần từ những hiện tượng hết sức bình thường trong thiên nhiên quanh ta: từ "cành hoa trước gió", từ "lá rụng ban đêm", từ " mong manh... lá cỏ", từ "cành mai đầu ngõ rung rinh nắng"... Chính những điều giản dị ,bình thường này tạo ra những biến hóa mầu nhiệm trong tâm hồn.
Cát bụi đáy vùi sâu chiều mộng mị
Lòng chợt trong theo vệt nắng vàng tươi (tr.82)
Trời cao xanh quá, trong xanh quá
Mà lạ lùng sao cái đất này! (tr.64)
Trời xanh chẳng phải của riêng ai. Nhưng ở nhà thơ chính trời xanh này tạo ra phép lạ của sự tỉnh thức.
Trong tập thơ Nguồn của Nguyễn Bá Chung, có phép lạ của "vệt nắng vàng tươi", có phép lạ của"trời cao xanh quá,trong xanh quá"... cũng phải nói đến phép lạ của thi ca.
Một khi "nét thảo tài hoa lại sáng bừng" thì "đau thương là hạnh phúc muôn phần", " thương đau" là " kỷ vật trời cho" (xem tr.70), vì chính từ những đau thương ấy, con người mới hiêu được chính mình để rồi từ đó:
"Ngàn câu thắt ruột thành lời gió ru" (tr.71)

