Tương lai của toàn cầu hóa hậu khủng hoảng

Nền kinh tế thế giới vừa trải qua tình trạng suy thoái tồi tệ được đánh dấu bằng cuộc khủng hoảng tài chính, các nền kinh tế thịnh vượng bị thiệt hại trên diện rộng, sản lượng công nghiệp cũng như thương mại toàn cầu giảm mạnh.

Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO), thị trường lao động trong năm 2009 tiếp tục bất ổn, khiến tình trạng thất nghiệp trên toàn thế giới diễn ra tồi tệ hơn. Số lao động không có việc làm sẽ còn cao hơn mức 39-61 triệu người của năm 2007. Đến cuối năm 2010, số người thất nghiệp trên khắp thế giới có thể nằm trong khoảng 219-241 triệu người - đây là con số kỷ lục từ trước tới nay.

Mức lương thực sự của lao động toàn cầu đã giảm đáng kể trong năm 2008, và theo dự đoán, sẽ còn sụt giảm tồi tệ hơn trong năm 2009, bất chấp nhiều dấu hiệu khả quan của sự phục hồi kinh tế thế giới. Trong số 53 quốc gia có số liệu thống kê sẵn có, mức tăng lương thực tế trung bình của người lao động đã giảm từ 4,3% trong năm 2007 xuống còn 1,4% năm 2008.

Một nông dân Campuchia đang cắt mía tại nông trại của mình ở tỉnh Kandal. Theo Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF, nền kinh tế của Campuchia vẫn bị tác động ngày càng nặng nề từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tình hình cũng không mấy sáng sủa hơn trong năm nay. Nguồn ảnh: Corbis

Trong khi đó, Ngân hàng Thế giới đưa ra cảnh báo rằng hơn 89 triệu người có thể sẽ vẫn phải sống trong tình cảnh đói nghèo khi khủng hoảng đi qua, con số này chưa tính tới số lượng ước đoán 1,4 tỷ người sống dưới mức đói nghèo 1,25 USD/ngày được đưa ra hồi năm 2005.

Trong bối cảnh này, lý thuyết về toàn cầu hóa đối mặt với những chỉ trích nặng nề, ngay cả bởi lãnh đạo nhiều quốc gia đang phát triển vốn thu được không ít lợi ích từ quá trình toàn cầu hóa. Tổng thống Yoweri Museveni - người được cho là đã đưa Uganda hội nhập vào thị trường thế giới, - cũng phải nói rằng toàn cầu hóa “cũng tương tự trật tự cũ với các hình thức kiểm soát mới, các phương tiện bóc lột mới, và các hình thức mới đẩy các nước nhỏ ra ngoài lề” của các quốc gia giàu có đang tìm cách duy trì sự thâm nhập vào thị trường các nước đang phát triển.

Tuy nhiên lựa chọn cách hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu lại là biện pháp ít nguy hiểm hơn. Trên thực tế, khi quyết định đóng cửa nền kinh tế với bên ngoài, các quốc gia sẽ phải đổi mặt với nhiều cú sốc, đặc biệt từ sự trì trệ và những cuộc khủng hoảng trong nước tồi tệ.

Để đảm bảo có được một lối thoát an toàn từ khủng hoảng và xây dựng được nền tảng cho sự phát triển rộng lớn và bền vững trong một thế giới toàn cầu hóa, các quốc gia đang phát triển cần phải phác thảo được những bài học trong lịch sử để vững bước trong năm 2010 và các năm sau đó.

Trong cuộc khủng hoảng hiện nay, Trung Quốc, Ấn Độ và nhiều thị trường mới nổi khác đã đối phó tương đối tốt với các thách thức. Những quốc gia này đều có được bảng cân đối rất tốt với rất ít khoảng trống cho bất kỳ sự bất ổn tài chính nào, điều này đã giúp các nước này áp dụng các chính sách ngược chu kỳ hiệu quả để chống lại những cú sốc từ bên ngoài.

Các nước này cũng đã duy trì sự phát triển những ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh cao, chính chiến lược này đã giúp họ trụ lại vững mạnh sau khi cơn bão đi qua. Trên thực tế, lợi thế cạnh tranh – được quyết định bằng sự dư thừa lao động tương đối, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và sự sẵn có tư bản – là nền tảng cho sự cạnh tranh khốc liệt, mà nhờ đó củng cố sự phát triển năng động và vị thế tài chính vững mạnh.

Ngược lại, nếu một quốc gia không mấy quan tâm thúc đẩy lợi thế cạnh tranh của mình, như áp dụng chiến lược thay thế nhập khẩu nhằm theo đuổi sự phát triển trong các ngành công nghệ cao hoặc các ngành công nghiệp đòi hỏi vốn lớn tại một nền kinh tế khan hiếm tư bản, chính phủ có thể sẽ phải lựa chọn các biện pháp trợ giá hoặc bảo hộ; tuy nhiên đây lại là những biện pháp làm hoạt động kinh tế trở nên yếu kém.

Hơn nữa, những nguy cơ này có thể khiến vị thế tài chính của chính phủ và tài khoản bên ngoài của nền kinh tế trở nên yếu đi. Không có khả năng tiến hành các biện pháp ngược chu kỳ, những quốc gia này sẽ trở nên nghèo khó hơn khi chịu ảnh hưởng từ khủng hoảng.

Để duy trì được lợi thế so sánh và sự thịnh vượng trong một thế giới toàn cầu hóa, mỗi quốc gia cần có hệ thống giá cả phản ảnh tính dư thừa của các nhân tố sản xuất. Các doanh nghiệp trong một môi trường như vậy sẽ có được nhiều sáng kiến để tham gia vào những ngành công nghiệp mà tại đó họ có thể sử dụng khả năng dư thừa lao động của mình thay thế cho sự khan hiếm vốn và ngược lại.

Chiến lược này sẽ giúp giảm thiểu chi phí sản xuất cũng như tăng cường khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp hay mỗi quốc gia. Những ví dụ tiêu biểu cho cách lựa chọn chiến lược này chính là ngành dệt may của Bangladesh, ngành “gia công” phần mềm của Ấn Độ, hay lĩnh vực sản xuất công nghiệp nhẹ của Trung Quốc.

Tuy nhiên, một hệ thống giá cả như trên chỉ có hiệu quả tại các nền kinh tế thị trường. Đây chính là lý do vì sao Trung Quốc – “sống sót gần như nguyên vẹn” sau khủng hoảng và đạt được mục tiêu tăng trưởng 8% trong năm 2009 – đã trở thành động lực kinh tế sau khi tiến hành cải cách nền kinh tế theo định hướng thị trường vào những năm 1980.

Theo Báo cáo Ủy ban Phát triển dưới sự lãnh đạo của Michael Spence - chủ nhân giải Nobel kinh tế, trên thực tế, 13 nền kinh tế có được tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm 7% hoặc cao hơn trong vòng 25 năm là các nền kinh tế thị trường.

Duy trì chính sách phát triển kinh tế dựa trên lợi thế so sánh cũng sẽ giúp các quốc gia củng cố khả năng phục hồi sau khủng hoảng và đẩy nhanh tốc độ tích tụ tư bản. Các quốc gia phát triển với những đặc điểm này có khả năng tận dụng các nhân tố có lợi, như chuyển sự dư thừa lao động hoặc tài nguyên tương đối thành dư thừa tư bản tương đối trong quá trình tạo ra của cải.

Trong thị trường toàn cầu đầy tính cạnh tranh ngày nay, các quốc gia cần phải nâng cấp và đa dạng hóa các ngành công nghiệp của mình, tiếp tục theo hướng quay vòng các nhân tố sản xuất dư thừa. Thành công hay thất bại của một doanh nghiệp tiên phòng trong việc nâng cấp hoặc đa dạng lĩnh vực kinh doanh sẽ có tác động đối với các công ty theo sau. Sự giúp đỡ từ chính phủ cho doanh nghiệp tiên phong có thể sẽ đẩy nhanh tốc độ của quá trình này.

Các tiến bộ trong công nghiệp cũng đòi hỏi sự phối hợp và đầu tư giữa các doanh nghiệp. Tại Ecuador - một đất nước đã rất thành công trong lĩnh vực xuất khẩu hoa, người nông dân đã không trồng hoa trong nhiều thập niên trước vì họ không có các cơ sở giữ lạnh gần sân bay, và các hãng tư nhân đã không đầu tư xây dựng nhưng cơ sở như thế này.

Trong những tình huống mà riêng nền kinh tế không thể vượt qua được những thách thức bên ngoài và thiếu sót trong các khoản đầu tư thiết yếu, chính phủ có thể đóng một vai trò đặc biệt quan trọng. Có thể đây cũng là một trong những nguyên nhân mà Báo cáo Ủy ban Phát triển đưa ra bằng chứng cho thấy mọi nền kinh tế thành công đều có sự thamg gia của những chính phủ có uy tín và khả năng.

Thế giới đã ở trong quá trình hội nhập mạnh mẽ và việc “quay đầu” lại không còn là một sự lựa chọn sáng suốt. Chúng ta phải có được những cái nhìn chủ quan từ các bài học trong quá khứ và tiếp tục tập trung xây dựng những thị trường có khả năng vận hành tốt, giúp các quốc gia đang phát triển có thể phát huy hiệu quả lợi thế so sánh của nền kinh tế.

Một phần quan trọng trong quá trình này, vai trò thúc đẩy của nhà nước dù ở các quốc gia phát triển hay đang phát triển đều là cần thiết; tuy nhiên, vai trò của chính phủ thế nào là hợp lý lại phụ thuộc vào giai đoạn phát triển của mỗi nước.

Trong thế giới liên kết và đầy phức tạp ngày này, ngay cả những nền kinh tế có sức cạnh tranh mạnh mẽ nhất cũng cần sự giúp sức từ chính phủ khi họ bước vào nền kinh tế toàn cầu.

Trang Anh (dịch từ Tân Hoa Xã)

 

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu