Minh triết của hiện đại hóa
Để hiện đại hóa thành công, Việt Nam cần một triết lý về hiện đại hóa, một triết lý kết hợp thực tiễn đương đại với các giá trị đã được lịch sử nhân loại chứng minh là đúng.
LTS: Khơi dòng từ bài viết "Xây danh dự cho dân tộc Việt" của tác giả Nguyễn Lương Hải Khôi, hàng loạt bài viết, ý kiến đã gửi về tranh luận quanh chủ đề Thoát Á hay Thoát Thân. Dù có những quan điểm khác nhau về mặt học thuật song đa số các ý kiến đều cùng chia sẻ rằng: Đã đến lúc Việt Nam cần phải có một chủ thuyết phát triển phù hợp để vượt thoát khỏi những lạc hậu đã kìm chân, khai phóng mạnh mẽ sức sáng tạo và hội nhập vào thế giới hiện đại.
Tuần Việt Nam giới thiệu bài viết dưới đây để tạm khép lại cuộc tranh luận thú vị và sôi nổi này.
"Thoát Á luận" và "Tiến hóa luận"
"Thoát Á luận" của Fukuzawa Yukichi dù ra đời đã hơn một thế kỷ, nhưng vẫn còn nguyên giá trị. "Thoát Á luận" là minh triết, vượt qua những hiện tượng đơn lẻ, nhất thời, đi đến một quy luật.
Minh triết của "Thoát Á luận", nói một cách ngắn gọn, là: Dân tộc nào một khi còn cắm rễ trong những thiết chế văn hóa lạc hậu, dân tộc đó sẽ không thể hiện đại hóa thành công. Dễ hiểu, nhưng khó làm. Đó là đặc trưng của minh triết. Cách diễn đạt "Thoát Á luận", hay khẩu hiệu "Thoát Á nhập Âu", thì tương đương với cách diễn đạt sau đây, trong ngôn ngữ minh bạch ngày nay:
- Là chủ thuyết về tái cấu trúc quốc gia, từ cấu trúc lạc hậu sang cấu trúc hiện đại
- Là chủ thuyết về sự tiến hóa của quốc gia, theo cách nhìn "Tiến hóa luận" của Chales Darwin: Hiện đại hóa có nghĩa là tái cấu trúc chính mình thành một hệ thống khác, để những tệ lậu của chính mình không còn đất dung thân, và các giá trị văn hóa hiện đại có thể nảy nở, sinh tồn và vận hành.

"Thoát Á", theo Fukuzawa, không phải là vứt bỏ các "giá trị Châu Á". Đương thời, Fukuzawa, cũng như các trí thức khác của Nhật, luôn đề cao khẩu hiệu "Wakon Yousai", tức "和魂洋才", âm Hán Việt là "Hòa hồn Dương tài", nghĩa là kết hợp giữa linh hồn văn hóa cố hữu của Nhật Bản với trí tuệ, tri thức, công nghệ, kỹ thuật... phương Tây.
Ý thức về "tính hiện đại" là ý thức do văn minh Phương Tây, tiêu biểu là ba dân tộc Pháp, Anh và Đức, khai mở từ thời Phục hưng trở đi. Do đó, trong ý thức của Fukuzawa đường thời, Phương Tây là hệ hình của "tính hiện đại" cho phần còn lại của thế giới.
Mặt khác, "Thoát Á luận" còn phản ánh một cách tư duy để đi đến cái đích ấy: phương pháp luận của hiện đại hóa chính là cách tư duy của Chales Darwin trong "Tiến hóa luận".
Giải thích "Thoát Á luận" bằng "Tiến hóa luận" không phải là một sự "liên tưởng ngẫu nhiên" mà có cơ sở lịch sử của nó. Đương thời, "Tiến hóa luận" của Darwin ảnh hưởng lớn ở Nhật, vượt ra ngoài phạm vi của Sinh vật học. Người ta áp dụng cách nhìn đó vào vào mọi lĩnh của đời sống, như kinh tế, chính trị, xã hội, đời sống cá nhân của con người, thậm chí, cả trong tiến trình hiện đại hóa văn chương nghệ thuật.
Trong "Thoát Á luận", chúng ta có thể thấy, tư duy của Charles Darwin trong "Nguồn gốc của các loài" (năm 1858), được thể hiện rõ ở hai điểm.
Một là, tư duy theo tiến hóa luận của Darwin, khi một loài sinh vật di cư từ môi trường này sang môi trường khác, hoặc, bản thân môi trường đang sống bị thay đổi đi, thì loài ấy phải tiến hóa sao cho cơ thể của mình thích ứng với điều kiện mới, nếu không, nó cũng sẽ bị tự nhiên đào thải.
Một quốc gia cũng tương tự như vậy. Trong "Thoát Á luận", Fukuzawa cho rằng, trong thời đại mà nền văn minh Châu Âu có sức mạnh bành trướng "nhanh như bệnh sởi", bất kỳ dân tộc nào đứng ngoài dòng chảy văn minh đó, tức không tiến hóa để thích ứng, tiêu biểu là Trung Quốc và Triều Tiên, đều bị "đào thải tự nhiên".
Ngày nay, chúng ta vẫn có thể nghĩ như vậy, trong thời đại của một nền kinh tế - khoa học mà sự phát triển đích thực phụ thuộc vào sáng tạo. Dân tộc nào không khai phóng được năng lực sáng tạo cho mình, cũng sẽ bị "tiêu diệt", dĩ nhiên không thành thuộc địa như trước đây nhưng với một hình thức khác, đau đớn không kém về mặt danh dự.
Hai là, phương thức tiến hóa trong sinh giới, theo cách tư duy của Darwin, là sự thay đổi dần dần từng thành tố trong cấu trúc của sinh thể, và tùy theo mức độ áp lực của môi trường tự nhiên, mà thông qua đột biến gen, cũng có thể dẫn đến thay đổi hoàn toàn cấu trúc đó, hình thành nên loài mới.
Thao tác của tiến hóa, do đó, là tái cấu trúc cơ thể của chính mình: bước đầu là mọc thêm vây, thay đổi cấu tạo của đuôi, sau đó xuất hiện những bộ phận giúp thở ở cả trên cạn lẫn dưới nước, rồi tiến tới vứt bỏ phổi, thở luôn bằng mang...
Hiện đại hóa của một quốc gia, theo cách nghĩ "Thoát Á luận" của Fukuzawa, cũng tương tự như vậy. Trong "Thoát Á luận", ông chỉ ra rằng, với cấu trúc nhà nước đương thời của Nhật Bản, một nhà nước phong kiến hết lòng ủng hộ canh tân nhưng vẫn là một cấu trúc nhà nước phong kiến, các giá trị hiện đại không thể lan truyền, nghĩa là Nhật Bản sẽ là một "sinh vật" không thể trụ vững trước quy luật "đào thải tự nhiên" trong làn sóng thực dân hóa.
Do đó, "cơ thể" của Nhật Bản cần phải tiến hóa, có nghĩa là, cần phải tái cấu trúc. Và đương thời, Nhật Bản đã tái cấu trúc rất mãnh liệt: xây dựng Quốc hội độc lập để giám sát Nhà nước, giáo dục về các giá trị của văn hóa dân chủ và triết học khai sáng của văn minh Châu Âu thay thế cho tư duy Nho giáo vốn đề cao sự phục tùng.
Khẩu hiệu "Thoát Á nhập Âu", trong ý nghĩa chính xác nhất của nó, là một minh triết về "phát triển": "Phát triển" là tái cấu trúc chính mình để thích ứng với hoàn cảnh. Và "hiện đại hóa", trong tinh thần của "Thoát Á luận", là giải cấu trúc cái hệ hình lạc hậu để tái cấu trúc theo một hệ hình hiện đại. Hệ hình đó không thể gì khác là Phương Tây. Do đó, hiện đại hóa là Tây Phương hóa.
Hiện đại hóa, Sáng tạo và Bản sắc
Ý thức về "hiện đại hóa", trong "Thoát Á luận", hoàn toàn đồng nghĩa với "Phương Tây hóa".
Điều này là một tất yếu bất khả kháng. Vì toàn bộ nội hàm của khái niệm "hiện đại" đều là sáng tạo của Phương Tây, cả trong tư duy lẫn thực tiễn.
Nhịp độ trưởng thành của các nước Châu Á song hành với nhịp độ Tây Phương hóa, trước hết là trong tư duy. Tuy vậy, cái mới không phải là cái khác với hôm qua, mà là cái mang một sức sống mới, một sự sống mới. Châu Á có những giá trị dẫu ra đời từ thuở bình minh của lịch sử nhưng đến nay vẫn luôn là mới. Khi Phương Tây hóa, Nhật Bản đã đánh mất rất nhiều "giá trị mới" ấy.
Có một nghịch lý. Hiện đại hóa thì phải Tây phương hóa, mà muốn Tây phương hóa thì phải "Thoát Á", tức vượt thoát khỏi chính truyền thống lạc hậu cổ hủ và kìm hãm sự tiến bộ của mình. Nhưng khi ấy, chúng ta lại rơi vào một bi kịch khác, bi kịch vong bản, đánh mất bản sắc, trở thành "Một" với nơi truyền bá.
Như vậy, cần có một cách nhìn đúng, để sao cho chiến lược "giữ gìn bản sắc", tức chống lại "Tây Phương hóa", và các loại "hóa" khác, ở phần còn lại của thế giới, không biến thành bảo thủ, thủ cựu, thành sự phòng thủ và kìm hãm sự tiến bộ.
Để "hiện đại hóa" và "bản sắc" không còn là hai cực đối lập, chúng ta phải nhìn quá trình tái cấu trúc để hiện đại hóa như là một dạng thức của tiến trình sáng tạo. Một dân tộc hiện đại hóa là một dân tộc đang đi trên con đường sáng tạo nên chính bản thân mình, ở từng mảng khác nhau của cuộc sống.
Ở đây, có một điều cần thức nhận. Bản sắc, đó là nỗi ám ảnh của kẻ yếu. Những dân tộc có sức sáng tạo lớn không có nhu cầu băn khoăn về bản sắc, người ta chỉ trở nên bối rối với nó, khi đứng vào vị thế của kẻ kém cỏi trong khả năng sáng tạo, thiên về thâu nhận những sáng tạo của người khác mà hiếm hoi những hiến dâng.
Nói rõ hơn, khi đứng ở vị thế của kẻ sáng tạo, kẻ cống hiến, kẻ truyền bá, người ta có khả năng in hình ảnh của dân tộc mình lên trái tim và khối óc kẻ khác. Khi đó, không có lý do gì để lo lắng cho bản sắc cả. Ngược lại, người ta chỉ xuất hiện nhu cầu về bản sắc khi đứng ở vị thế của kẻ thâu nhận, vì khi ấy, phải đối mặt với nguy cơ trở thành "Một" với kẻ sáng tạo.
Đó là lý do vì sao, trong suốt nhiều thế kỷ, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản luôn nghĩ về "bản sắc" khi đứng trước Trung Quốc. Ngày nay, chúng ta cũng đang nhìn hiện tượng toàn cầu hóa với một nỗi ám ảnh tương tự. Và không chỉ chúng ta, cả những dân tộc từng góp phần chủ chốt định hình khái niệm "hiện đại" cho nhân loại như Pháp và Đức, đến hôm nay, trong thời đại mà "toàn cầu hóa" gần như là "Mỹ hóa", cũng bắt đầu có một nỗi lo "đánh mất".
Nỗi lo ấy là chính đáng và cần thiết. Chỉ có điều, nó bị lệch hướng ở một điểm: người ta biến cuộc kiếm tìm bản sắc thành cuộc kiếm tìm một cái gì như là cốt lõi tận cùng bên trong, cái cốt lõi bất biến, được hiểu như là "linh hồn" hay là "bản thể" độc nhất của dân tộc mà chỉ mình có còn kẻ khác không có.
Đây sẽ vĩnh viễn là một cuộc kiếm tìm vô vọng. Bởi nếu nhìn văn hóa dưới góc nhìn của sáng tạo, chúng ta sẽ phải bối rối mà thừa nhận rằng, mọi nền văn hóa, mọi giá trị văn học và nghệ thuật, hay cả những thành tựu kỹ thuật thúc đẩy sự phát triển của lịch sử, không có cái gì có một bản thể của riêng nó mà cái khác không có, ngược lại, tất cả những điều ấy chỉ sinh thành khi xuất hiện nơi mối liên hệ với kẻ khác, và chỉ tồn tại trên giao điểm của các giá trị khác. Điểm giao thoa này mất đi, nó sẽ tiêu vong.
Nhìn vào mỗi một thành tố của văn hóa Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, các nền văn hóa Châu Âu, hay nền văn hóa có sức sáng tạo khổng lồ ngày nay, văn hóa Mỹ, nếu chúng ta kiếm tìm một cái hồn cốt duy nhất mà không dân tộc nào có, chúng ta sẽ không thể tìm thấy.
Bởi lẽ, nếu bóc từng lớp cấu trúc của nó, vượt qua từng mặt của thế giới hiện tượng mà ta có thể trực quan, và truy nguyên đến tận cùng bản chất của nó, chúng ta sẽ không thể tìm thấy một cái gì chỉ là nó mà không là cái khác. Mổ xẻ đến tận cùng thì còn lại một hư vô.
Ngay cả những giá trị nổi tiếng của nền minh triết cổ đại của Hán tộc như Kinh Dịch và Nho giáo, nếu không nằm trên giao điểm với những cảm quan về thế giới của văn hóa Bách Việt thì không thể định hình một diện mạo như người ta đã thấy.
Nhưng điều đó không có nghĩa là các dân tộc này không có một bản sắc, hay thậm chí không tồn tại "bản sắc" trên thế gian này.
Chỉ có điều, bản sắc không phải là cái hồn cốt biệt lập và cố hữu truyền lại từ cội nguồn. Tư duy theo cách của "Tiến hóa luận" Chales Darwin, thì trong con linh dương trên thảo nguyên có hình ảnh của cá voi ngoài đại dương, trong bản chất của mỗi loài đều có một phần của loài khác, nhưng, loài người hiển nhiên là khác loài vượn, loài chim khác loài khủng long, dẫu cho mỗi loài hình thành dựa trên loài khác nhưng vẫn có bản sắc riêng, không hề nhập nhằng.
Hơn thế nữa, bản sắc, một mặt, là cái chỉ định hình trên những giao điểm, và mặt khác, là cái người ta sống với nó như là chính mình. Chẳng hạn, đối với Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Phật Giáo là ngoại lai, nhưng đã trở thành bản sắc của mỗi dân tộc. Nói chung, bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc đều chịu ơn dân tộc khác.
Ngày nay, bên cạnh tinh thần Thiền tông, cách tư duy của nền văn hóa dân chủ Châu Âu thấm đẫm trong tinh thần người Nhật, ít nhất là ở mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân. Cách tư duy này, tương tự như Thiền trước đó, cũng là cái Nhật Bản du nhập, nhưng đã trở thành một nét bản sắc của họ, bởi họ đã sống trọn vẹn tinh thần của mình với giá trị đó, ở những mảng thiết yếu của cuộc sống.
Bản sắc, do đó, không phải là cái có sẵn, mà còn là cái phải được sáng tạo ra. Khi Thiền sư Thích Nhất Hạnh cắm một cội rễ Thiền Việt Nam trên mảnh đất tinh thần Phương Tây, hoặc ngay cả khi người Nhật đưa Thiền từ truyền thống vào cuộc sống hiện đại của chính họ, đó cũng là những quá trình sáng tạo, bởi người ta phải làm cho Thiền tiến hóa trong bối cảnh mới, tương tự như những giống loài trên mặt đất muốn vươn lên trời xanh thì phải mọc thêm cánh, không thể dùng đến tứ chi.
Quá trình hiện đại hóa, nếu hiểu như cách hiểu của "Thoát Á luận" sẽ gồm hai bước. Bước một, mô phỏng tính hiện đại của Phương Tây. Bước hai, sáng tạo nên những giá trị hiện đại theo tiêu chí Phương Tây.
Để giải quyết nghịch lý của "hiện đại hóa" và "bản sắc", chúng ta cần đi đến một bước thứ ba. Đó là, đứng bên ngoài "chiếc hộp Phương Tây" để tư duy về tính hiện đại, và từ đây, làm cho chính mình trở thành một trong những tiêu chí của giá trị hiện đại, sáng tạo thêm một nội hàm độc lập của tính hiện đại, một tính hiện đại phi Phương Tây.
Đối với "bản sắc", nhiệm vụ của mỗi dân tộc không phải là "giữ gìn" mà là "sáng tạo" ra nó, để loại bỏ vị trí độc quyền đại diện cho "tính hiện đại" của những người tiên phong.
Cái bản sắc mà các dân tộc ở Châu Á cần tìm kiếm không phải là những gì mà tổ tiên đã tạo ra trong quá khứ, mà là bản sắc của tính hiện đại, trong thế tương giao với những kẻ tiên phong. Nếu muốn "hiện đại hóa" mà không "Tây Phương hóa", muốn không "Tây Phương hóa" mà vẫn không rơi vào thủ cựu, đó là con đường duy nhất.
Vì thế, văn hóa Việt Nam, thay vì tự ám ảnh về bản sắc như là cái cố hữu truyền lại từ cội nguồn, cần phải ám ảnh về sáng tạo. Không tìm kiếm trong quá khứ cái mà kẻ khác không có, không có nghĩa là trở thành kẻ khác. Ngược lại, sáng tạo, trong bản chất của nó, là kiến thiết cho đối tượng mới một bản sắc, để mình trở thành chính mình trong thế phân biệt với kẻ khác.
Cần thoát khỏi tâm thế phòng thủ khi nhìn thế giới toàn cầu hóa, tư duy như kẻ mạnh, coi bản sắc là cái mình sống như là nó, không là những nhãn hiệu mình dán lên trán mình và trán kẻ khác; là cái đến cùng với sáng tạo, không nằm ở cái cố hữu; là cái sinh thành nơi những giao thoa, không phải là cái hồn cốt bất biến và biệt lập.