Ngành than sau 15 năm phát triển: “được” 3, “mất” 7

15 năm qua, ngành than chưa tạo được thế mạnh cạnh tranh cốt lõi của riêng mình. Mọi thành tích đã qua của ngành đều xuất phát từ việc biến độc quyền nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp trong khai thác và tiêu thụ than, đặc biệt trong xuất khẩu than. sự kiện nóng

LTS: Ngành công nghiệp than VN đã trải qua 15 năm phát triển theo cơ chế thị trường dưới mô hình tổ chức được đổi mới ban đầu là tổng công ty "91", sau đó là "tập đoàn". Thời gian đủ để chúng ta bình tâm nhìn nhận lại những thành tích và những yếu kém trong quản lý phát triển một ngành công nghiệp quan trọng này của đất nước. Với với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, và cũng tôn trọng tính đa chiều của truyền thông, Tuần Việt Nam giới thiệu bài viết thể hiện góc nhìn của TS Nguyễn Thành Sơn đề cập đến những nét nổi bật (cả "được" và "mất") của Tổng công ty Than (TVN) và sau này là Tập đoàn công nghiệp Than-Khoáng sản (TKV).

1/ Một thử nghiệm thành công của cơ chế phát triển mới:

Thực hiện chủ trương, đường lối đổi mới nền kinh tế-xã hội VN được các Đại hội Đảng toàn quốc đã đề ra, khi nền kinh tế của VN chuyển từ "kế hoạch hoá tập trung" sang "thị trường có điều tiết", ngành than VN từ năm 1994/1995 đến nay đã cơ bản hoàn thành giai đoạn tái cơ cấu tổ chức ở tầm vĩ mô, đã đi đầu trong các thử nghiệm về đổi mới tổ chức, hoàn thiện quản lý trên phạm vi toàn ngành theo các mô hình của "tổng công ty 91" và "tập đoàn". Cũng giống như trong các tổng công ty "91" và "tập đoàn" nhà nước khác, trong ngành than đã và đang hình thành một cơ chế phát triển mới.

Thời gian 15 năm qua là bước tiến lịch sử của ngành than VN có được nhờ hoạt động theo cơ chế quản lý mới của nền kinh tế nói chung và của ngành năng lượng nói riêng. Chính cơ chế "thị trường có điều tiết" là yếu tố quan trọng và quyết định tạo ra các thành tích đáng kể của ngành than VN. Cùng với các tổng công ty "91" và "tập đoàn" nhà nước khác, thành tích nổi nhất của ngành than thời gian qua là đã chứng minh sự đúng đắn của việc bỏ chức năng quản lý kinh doanh của các bộ chủ quản theo tinh thần nghị quyết của Quốc hội.

Không dừng lại ở "thị trường có điều tiết", TKV đã biết hướng sự phát triển của mình theo cơ chế hoàn thiện hơn, đó là "thị trường có cạnh tranh". Lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của các ngành năng lượng, ngành than đã "xung phong", và đã vượt qua rất nhiều rào cản để phát triển các dự án nhà máy nhiệt điện chạy than. Đây là một tư duy mới, và việc làm này có thể coi là thành tích đáng kể của ngành than trong việc đột phá tạo ra thị trường phát điện có cạnh tranh cho nền kinh tế.

2/ Bước đầu khẳng định được vai trò và vị trí:

Trong cân bằng năng lượng hiện nay của nền kinh tế, ngành than đã dần khẳng định được vai trò và vị trí xứng đáng của mình. Tỷ trọng của than trong cân bằng năng lượng đang tăng lên. Đặc biệt, trong tổng sơ đồ phát triển hiện nay của ngành điện, các dự án nhiệt điện chạy than đã và đang được quy hoạch phát triển với quy mô tương đối lớn.

Nhờ có cơ chế phát triển mới được hình thành, TKV đã tăng được sản lượng khai thác than, đáp ứng đủ than cho nền kinh tế, đã xuất khẩu được một lượng lớn than ra thị trường thế giới, tạo ra nguồn thu bù đắp cho việc bình ổn giá than trên thị trường trong nước, và để đầu tư mua sắm trang thiết bị cần thiết. Ngoài việc cung cấp đủ than cho các ngành kinh tế, TKV đã chủ động tạo ra thị trường nội địa cho chính sản phẩm than của mình bằng việc phát triển các dự án nhiệt điện chạy than có chất lượng thấp.

Cùng với việc tham gia phát triển các dự án nhiệt điện chạy than, TKV đã đi đầu trong việc đổi mới kỹ thuật phát điện theo công nghệ "than sạch" bằng lò hơi "tầng sôi tuần hoàn". Việc lần đầu tiên ở VN công nghệ "lò hơi tầng sôi tuần hoàn" do TKV đầu tư có ý nghĩa không những về mặt áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường, mà còn có giá trị mở ra một triển vọng lớn cho việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên than có hạn trong cân bằng năng lượng của đất nước.

3/ Ổn định được việc làm và cải thiện được đời sống cho người lao động:

Trong điều kiện xảy cuộc khủng hoảng tài chính trong khu vực và cuộc khủng hoảng kinh tế trên toàn thế giới như vừa qua, thành tích đáng kể của TKV là đã bước đầu đảm bảo đời sống vật chất và tinh thần, đã duy trì được việc làm và thu nhập cho gần 13 vạn lao động và đã đóng góp đáng kể cho ngân sách.

Tuy thu nhập của thợ mỏ hiện nay còn thấp hơn nhiều so với các ngành khác (do năng suất lao động chưa cao), nhưng điều kiện làm việc đã được cải thiện. Mức độ lao động tuy còn nặng nhọc (tỷ lệ thủ công vẫn cao), nhưng các dịch vụ đời sống cho thợ lò đã được quan tâm (tắm nước nóng, uống sữa, giặt quần áo, khám chữa bệnh nghề nghiệp, nghỉ dưỡng, thăm quan, sinh hoạt văn hóa thể thao v.v.).

Tuy nhiên, trong thời gian tới, ngành than đang đứng trước nguy cơ không thể thực hiện được nhiệm vụ chính của mình là đảm bảo các cân đối lớn về than của Chính phủ. Sau 15 năm phát triển, từ chỗ đã và đang khai thác dư thừa than để xuất khẩu, TKV đang đối mặt với một thực tế là sẽ không cấp đủ than cho nền kinh tế. Đó vừa là hậu quả nặng nề, vừa là minh chứng rõ nhất cho việc phát triển không bền vững của TKV trong 15 năm qua.

4/ Phát triển không bền vững:

Đối với tổng công ty "91" hay tập đoàn, phát triển bền vững là một nhiệm vụ rất quan trọng để góp phần phát triển ổn định và có hiệu quả của nền kinh tế.

Thực tế 15 năm qua cho thấy mục tiêu chiến lược phát triển của TKV đã được xác định một cách sai lầm, chỉ tập trung vào sự "tăng trưởng" bằng việc xuất khẩu than, bỏ qua sự phát triển ổn định và hiệu quả.

Trước năm 2000, việc tăng nhanh sản lượng than để xuất khẩu đã dẫn đến tình trạng dư thừa chủng loại than có chất lượng thấp, vốn lưu động tăng, hiệu quả sản xuất kinh doanh của các mỏ giảm, sản xuất than bị đình trệ, công nhân mỏ không đủ việc làm. Ngành than đã bị lún sâu vào khủng hoảng năm 1999 do phụ thuộc vào xuất khẩu than. Kết luận của Thanh tra Chính phủ đã chỉ ra nhiều bất cập trong điều hành và quản lý của TKV trong thời gian này.

Sau năm 2000, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 20/2003/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành than với mục tiêu đến năm 2010 sản lượng tối đa là 24 triệu tấn than. Mặc dù vậy, yếu tố chi phối chiến lược phát triển của TKV không phải là quy hoạch mà là "tư duy nhiệm kỳ" và "chủ nghĩa thành tích". Đến quý 3 năm 2004, ngành than VN đã "về đích" của năm 2010 và sản lượng than năm 2005 đã vượt gần 2 lần so với quy hoạch được duyệt. Sai lầm trong chiến lược phát triển theo hướng "đẩy mạnh xuất khẩu", đang dẫn đến tình trạng VN sẽ sớm phải nhập khẩu than sau năm 2015.

Trong chỉ đạo và quản lý phát triển, TKV không bám sát nhu cầu về than của nền kinh tế. Nhu cầu phát triển lâu dài của nền kinh tế VN đang hình thành thị trường than về cơ bản "cầu" sẽ lớn hơn "cung". Trong 15 năm qua, do chạy theo thành tích, TKV đã tạo ra "cung" lớn hơn "cầu" để xuất khẩu than. Đây là một sai lầm. Chiến lược phát triển của ngành than phải đạt mục tiêu "đáp ứng một cách bền vững và có hiệu quả nhu cầu than của nền kinh tế", chứ không chỉ đáp ứng đủ than trước mắt và chỉ tính đến hiệu quả cục bộ của ngành. Chiến lược phát triển phải dựa trên việc phân tích cụ thể những đặc điểm mới của thị trường than đó là: tăng trưởng mạnh về số lượng than; thay đổi về chủng loại than sẽ được sử dụng trong nền kinh tế (than năng lượng để phát điện và than mỡ để luyện coke tăng mạnh); hình thành các hộ dùng than quan trọng mới (các nhà máy xi măng và các cụm nhiệt điện chạy than khu vực miền trung và miền nam).

Mặc dù vậy, trong đầu tư phát triển của TKV, và trong Quy hoạch mới (chưa được duyệt) của ngành than đã xác định sai mục tiêu chiến lược. Thị trường tiêu điểm (chủ yếu và lâu dài) của TKV là các ngành kinh tế trong nước. Toàn bộ sản lượng than trong tương lai của TKV chưa đủ cấp cho các nhà máy nhiệt điện chạy than trong nước, nhưng TKV hiện đang đầu tư rất lãng phí và rất không hiệu quả các nhà máy tuyển than để xuất khẩu. Lâu nay, TKV vẫn chủ trương "có xuất, có nhập", nhưng lại không quan tâm đến hiệu quả của việc "xuất" và "nhập" dưới góc độ của nền kinh tế. Hiện nay TKV đang bán rẻ than trên thị trường thế giới, nhưng trong tương lai, không thể nhập khẩu được than với giá cạnh tranh. Giá xuất khẩu (FOB) 1 tấn than hiện nay không đủ nhập (CIF) 0,2 tấn than trong tương lai. Chủ trương đẩy mạnh xuất khẩu than thể hiện tư duy nhiệm kỳ, và chỉ mang lại lợi ích cục bộ. Trong thời gian tới, việc nhập khẩu đủ than là không khả thi.

5/ Không đầu tư mở rộng sản xuất:

Trong suốt 15 năm qua, mặc dù TKV đã xuất khẩu một lượng than rất lớn, thu về một lượng ngoại tệ khổng lồ, nhưng chưa hề có đầu tư tái sản xuất mở rộng. Việc tăng trưởng sản lượng trong thời gian qua mới chỉ dựa vào "thâm canh" khai thác các mỏ có sẵn từ thời bao cấp. Những mỏ có điều kiện khai thác thuận lợi, đặc biệt là các mỏ lộ thiên, đều đã bị tận dụng khai thác vượt quá công suất tối ưu như Núi Béo, Đèo Nai, Cọc Sáu, Cao Sơn, Núi Hồng, Khánh Hoà v.v.. So với Tổng sơ đồ do Liên Xô lập trước đây, 15 năm qua TKV chưa xây dựng được một mỏ mới nào để đưa vào khai thác. Có "mỏ" được coi là "mới" nhưng thực chất chỉ là một công trường tách ra từ những mỏ đã có sẵn và được đặt tên mới.

Kế hoạch đầu tư XDCB của TKV hàng năm chỉ thực hiện được 30-50%. Vốn đầu tư đã thực hiện chủ yếu là mua sắm thiết bị cho các mỏ hiện có. Giá trị và khối lượng xây lắp các mỏ mới hầu như không không đáng kể. Các mỏ lộ thiên không có bốc đất XDCB. Các mỏ hầm lò có giá trị xây lắp và khối lượng mét lò XDCB đào mới rất thấp. Trong khai thác hầm lò vấn đề đổi mới công nghệ, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật chưa có hiệu quả. Điển hình là lò chợ ở mỏ Vàng Danh được đầu tư cơ giới hóa bằng thiết bị "Vinaalta" có giá gấp 1,5-2 lần giá thị trường, tốn hơn 10 triệu đô la (do không đấu thầu), nhưng năng suất chỉ tương đương với lò chợ thủ công.

Sai lầm cơ bản của TKV là ngay từ khi vừa được thành lập, các đơn vị xây lắp có truyền thống hàng chục năm dưới thời bao cấp đã được "tổ chức lại" (mà thực chất chỉ là đổi tên) thành các đơn vị khai thác. Trong TVN không còn lực lượng xây lắp chuyên ngành về than. Để tạo ra khai trường cho các đơn vị xây lắp này, TVN đã phạm một sai lầm nghiêm trọng tiếp theo là phân chia nhỏ các khoáng sàng than (đã được các viện thiết kế của Liên Xô trước đây qui hoạch có bài bản) theo kiểu "xin-cho". Gần đây TKV có thành lập các công ty xây dựng mỏ, nhưng lại không có đủ năng lực thực sự (đặc biệt, về cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật) để thực hiện nhiệm vụ quá sức và quá muộn này.

6/ Buông lỏng quản lý kỹ thuật cơ bản:

Vấn đề quản lý kỹ thuật cơ bản trong TKV hiện nay không chỉ dừng ở mức độ "buông lỏng" mà thực chất là vi phạm. Tình trạng kỹ thuật ở các mỏ than lộ thiên và hầm lò hiện nay đang ở mức thấp nhất trong toàn bộ quá trình phát triển của ngành than VN từ trước đến nay.

Trong công nghệ khai thác than lộ thiên: Hầu hết các mỏ than lộ thiên hiện nay đều đang ở trong tình trạng vi phạm nghiêm trọng kỹ thuật cơ bản là không có bãi thải được thiết kế và được phê duyệt theo đúng qui định. Bãi thải đất đá là một thành phần hữu cơ của mỏ lộ thiên, bắt buộc phải được thiết kế và tổ chức quản lý như khai trường. Các bãi thải đất đá của các mỏ lộ thiên (do không có thiết kế và không được quy hoạch một cách bài bản) đang là kẽ hở cho việc gian lận không kiểm soát được khối lượng đất đá bốc và chi phí khai thác than. Chính việc đổ thải không có qui hoạch này là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng môi trường vùng than bị phá huỷ nghiêm trọng không thể phục hồi được như hiện nay. Các hiện tượng chập tầng, tụt lở bờ mỏ (cả bờ trụ lẫn bờ vách), mặt tầng công tác bị thu hẹp v.v. như hiện nay đối với nghề khai thác mỏ là nghiêm trọng, rất ít khi xảy ra trong thời bao cấp.

Mỏ than lộ thiên Na Dương đang là điển hình của việc vi phạm qui trình kỹ thuật cơ bản trong khai thác mỏ một cách nghiêm trọng, đổ thải đất đá ngay trên bờ vách của mỏ (bên dưới bãi thải này còn khối lượng than gấp 2 lần trữ lượng mỏ hiện có) sau này sẽ phải bốc đi với chi phí lớn gấp nhiều lần chi phí hiện nay. Chủ trương của Bộ Năng lượng trước đây cho phép triển khai dự án điện Na Dương là để "cứu" mỏ than Na Dương trước nguy cơ phải đóng cửa. Nhưng hiện nay, do triển khai dự án điện kém hiệu quả (do có nhiều sai phạm trong đầu thầu), TKV đã vi phạm quản lý kỹ thuật cơ bản để hạ giá than đầu vào, tạo ra "lãi" giả của mỏ. Mỏ than Na Dương đang cứu nhà máy điện bằng cách tự huỷ hoại chính bản thân mình.

Trong công nghệ khai thác hầm lò: Tình trạng vi phạm kỹ thuật cơ bản cũng xảy ra một cách trầm trọng và có hệ thống. Do chạy theo sản lượng, hầu hết các mỏ hầm lò đã tổ chức khai thác cả các lộ vỉa bằng các công nghệ lộ thiên rẻ tiền. Việc khai thác các lộ vỉa than bằng các khai trường lộ thiên ở các mỏ hầm lò là một vi phạm rất nghiêm trọng về mặt kỹ thuật, đã phá huỷ toàn bộ các tầng than bảo vệ và các lớp đất đá cần được giữ nguyên để ngăn chặn nước mặt tràn vào mỏ hầm lò.

Việc khai thác các tầng than và bốc đi các lớp đất đá đầu lộ vỉa đã tạo ra các khu vực nhân tạo chứa nước mưa ngay trên các khu vực đang khai thác hầm lò. Hậu quả không thể khắc phục được hiện nay là hầu hết các lò chợ của mỏ hầm lò không chỉ thường xuyên có nguy cơ bị bục nước, và còn thường xuyên có nguy cơ bị sập lò do nằm trong vùng chịu "áp lực mỏ phần nông". Vi phạm kỹ thuật này đang là nguyên nhân trực tiếp và chủ yếu dẫn đến các tai nạn lao động đang xảy ra còn nhiều, vượt qua mức báo động, đang ở mức cao gần nhất của thế giới (khoảng 3 nạn nhân tính trên 1 triệu tấn than hầm lò).

Mỏ than Mông Dương là một ví dụ điển hình. Vụ tai nạn chết người hàng loạt do sập lò chợ, chôn vùi 16 thợ mỏ trong lòng đất ở mỏ Mông Dương ngày 31/3/2006 có nguyên nhân trực tiếp là khai thác than lộ vỉa. Nguyên nhân gián tiếp của vụ tai nạn lao động nghiêm trọng chết người hàng loạt này ở mỏ Mông Dương là trình độ non kém của giám đốc trong quản lý kỹ thuật cơ bản. Vì thành tích "tăng sản lượng", lò chợ này (nơi xảy ra tai nạn) đã được khai thác với chiều dài quá lớn so với mức cho phép, và để "tiết kiệm" chi phí, lò chợ này có hộ chiếu chống lò không đúng kỹ thuật.

7/ "Bóc ngắn, cắn dài"về tài nguyên:

Do tư duy theo kiểu "nhiệm kỳ", vấn đề nghiêm trọng (rủi ro lớn nhất và hiện thực nhất) đối với ngành than hiện nay là trữ lượng than đang ngày càng cạn kiệt với tốc độ nhanh hơn tốc độ thăm dò. Trong tổng số khoảng 9,7 tỷ tấn tài nguyên than ở Quảng Ninh hiện nay chỉ có 2,2 tỷ tấn thuộc trữ lượng cấp 111-122, còn lại 7,5 tỷ tấn chỉ là tài nguyên cấp 333 và 334.

Hầu hết các khoáng sàng chủ lực trong qui hoạch của TKV không có đủ cấp trữ lượng theo qui định, như: Đông bắc Mông Dương (-150m), Ngã Hai (-350m), Hà Tu-Hà Lầm (dưới -300m), Hà Ráng-Núi Khánh (đến -100m), Bình Minh (đến -300m), Vàng Danh (-150m), Mạo Khê (-400m), Yên Tử (-300m), Quảng La-Hồ Thiên (-300m), Đồng Rì (-300m), Uông Thượng (đến -250m) và Đồng bằng sông Hồng (-1200m). Các mỏ mới đang xây dựng và sẽ phải xây dựng như Hà Lầm, Đồng Rì, Khe Chàm II, Núi Béo (gầm), Cọc Sáu (gầm) Khánh Hoà (gầm) đều không có tài liệu địa chất pháp lý tin cậy để lập dự án và đều có rủi ro rất lớn về trữ lượng than.

Trữ lượng than được xác định theo kiểu "tính cua trong lỗ" đã đến mức báo động, không chỉ ảnh hưởng tới các mỏ khai thác than, mà còn gây ra rủi ro cho các dự án sử dụng than. Điển hình là dự án điện Sơn Động (Bắc Giang) có nhu cầu dùng than hơn 1 triệu tấn/năm. Cấp than cho dự án điện này chỉ có duy nhất mỏ Đồng Rì với trữ lượng tin cậy không quá 10 triệu tấn than (chỉ tương đương với sản lượng tối ưu của mỏ không quá 200 ngàn tấn/năm). TKV đã xây dựng nhà máy điện này dựa trên cơ sở "trữ lượng" than hơn 90 triệu tấn (gấp 9 lần thực tế). Hiện nay dự án nhiệt điện này đang có nguy cơ phải dùng than từ Quảng Ninh với cung độ vận chuyển hàng trăm cây số.

8/ Độc quyền Nhà nước biến thành độc quyền doanh nghiệp:

Được chuyển đổi cơ chế hoạt động từ "kế hoạch hoá tập trung" sang "thị trường có điều tiết", TKV đã biến sự độc quyền "điều tiết" về khai thác kinh doanh than của nhà nước thành độc quyền của doanh nghiệp. Đây là bất cập lớn nhất trong quản lý, tổ chức, và điều hành của TKV trong thời gian dài vừa qua đã và đang là nguyên nhân bao trùm của những bất cập và sai lầm khác.

Với sự ngộ nhận có chức năng ngang "bộ" (trực thuộc Chính phủ), TVN chưa nghiêm chỉnh thực hiện các quy định về quản lý nhà nước, đã không làm các thủ tục đăng ký Nhà nước về thăm dò, khai thác, chế biến và tiêu thụ than theo quy định của Luật Khoáng sản. TKV đã tự "cho" các đơn vị thành viên của mình thực hiện các hoạt động khoáng sản trong suốt 13 năm mặc dù không được cấp phép chính thức.

Tài nguyên khoáng sản than là sở hữu toàn dân, do Nhà nước độc quyền quản lý. Ngay từ khi mới được thành lập, TVN đã (bỏ qua việc xin phép như trên đã nêu) tự tạo ra cơ chế "xin-cho" trong việc giao quản lý khai thác than cho cả những đơn vị không có chức năng và không có năng lực về khai thác than. Việc tự cho mình "quyền" nhưng lại buông lỏng trách nhiệm quản lý này đã dẫn đến hậu quả tai hại là lần đầu tiên trong lịch sử của ngành công nghiệp than VN đã xuất hiện nạn "than thổ phỉ". Điển hình lớn nhất của "thổ phỉ" có tổ chức và có qui mô lớn là Công ty cổ phần Đầu tư, Thương mại và Dịch vụ (không có chức năng, không có giấy phép), nhưng được "giao" khai thác trái phép nhiều điểm lộ vỉa, đã ký tới 61 hợp đồng kinh tế với 52 tổ chức, cán nhân, thuê ngoài tới 82 máy xúc, 909 ô tô để khai thác và xuất khẩu hàng triệu tấn than.

Việc kinh doanh than trước đây thuộc độc quyền của Nhà nước thông qua một tổ chức duy nhất thực hiện (bán than trong nước- Tổng công ty cung ứng than, và xuất khẩu than- Công ty Coalimex). Ngay sau khi được thành lập, TVN đã tự phân quyền kinh doanh than cho hàng chục đơn vị thực hiện. Tổng giám đốc TKV quyết định về chỉ tiêu xuất khẩu (khối lượng, chủng loại, thị trường, giá cả) và chia "hạn ngạch" xuất khẩu cho một số đơn vị thành viên. Lợi nhuận tập chung của cả ngành than đã bị biến thành lợi nhuận trước hết của rất nhiều các đơn vị kinh doanh than, trong đó có nhiều các đơn vị mới được thành lập từ con số 0 (không chức năng, không kho bãi, không khách hàng v.v.). Hậu quả đối với thị trường trong nước là chi phí cung ứng than tăng, còn đối với thị trường xuất khẩu thì giá bán than bị giảm. Cũng giống như việc buông lỏng quản lý trong khai thác than, việc chia quyền kinh doanh than đã dẫn đến tình trạng lần đầu tiên trong lịch sử phát triển ngành than xuất hiện nạn buôn lậu than có tổ chức qua biên giới, và ăn cắp than.

Việc quy định các đơn vị thành viên chỉ sử dụng xi măng của nhà máy xi măng lò đứng La Hiên trước đây, hay các dịch vụ nội bộ (mua thiết bị, vật tư, thuốc nổ v.v. của các đơn vị trong TKV) hiện nay đã thủ tiêu tính cạnh tranh của các doanh nghiệp. Thực tế hiện nay, hiệu quả sản xuất kinh doanh của các đơn vị thành viên trong TKV chỉ là tương đối, không có sự cạnh tranh hoàn hảo.

Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các mỏ chủ yếu phụ thuộc vào quyết định giá mua-bán than trong nội bộ và giá xuất khẩu than. Thành tích của các giám đốc đơn vị thành viên hoàn toàn mang tính chất "có điều kiện". Hiệu quả của một công ty chế biến kinh doanh than không phụ thuộc vào trình độ, năng lực quản lý hay học vấn của giám đốc, mà chỉ phụ thuộc vào giá mua/bán than đầu vào/đầu ra do TKV qui định.

Lợi nhuận của một công ty du lịch hay thương mại hoàn toàn phụ thuộc số lượng than mà công ty này được phép mua rẻ để xuất khẩu với giá cao, hay khối lượng vật tư thiết bị được phép bán trong nội bộ TKV nhiều hay ít v.v. Việc điều tiết giá than theo khái niệm "địa tô" là để áp dụng cho các mỏ có điều kiện khai thác khác nhau cùng phát triển, tức là giữa các mỏ.

Trên thực tế, khái niệm "địa tô" đã bị lợi dụng để tạo điều kiện cho cả các đơn vị không khai thác than (chế biến, thương mại, dịch vụ) hưởng lợi trên lưng người thợ mỏ. Có thể nói, hầu hết các đơn vị thuộc lĩnh vực thương mại, dịch vụ, "kinh doanh đa ngành" của TKV hiện đang tồn tại nhờ dựa vào hòn than.

9/ Độc quyền doanh nghiệp biến thành độc quyền cá nhân:

TKV là một doanh nghiệp nhà nước, nhưng công tác quản lý điều hành đã không theo quy hoạch được duyệt. Công tác kế hoạch hóa yếu kém và bị xem nhẹ. Kế hoạch dài hạn thường xuyên bị điều chỉnh hàng năm, kế hoạch hàng năm (thường có 2 mức: cao và thấp) thì phải điều chỉnh hàng quý, và được chỉ đạo thực hiện theo tiêu chí "thành tích" và "tăng trưởng". Việc phối hợp với chính quyền địa phương chỉ mang tính "chữa cháy" (khi người lao động thiếu việc làm, hay "than thổ phỉ" vượt tầm kiểm soát).

Ý trí cá nhân cũng thể hiện rõ nét ở khâu cán bộ. Lần đầu tiên trong lịch sử ngành than, những giám đốc để xảy ra những vụ tai nạn lao động nghiêm trọng chết người hàng loạt (vụ bục lò ở nhà máy xi măng La Hiên làm chết 8 người, vụ sập lò chợ nổi tiếng ở Mông Dương) không những không bị cách chức mà còn được đề bạt lên chức vụ cao hơn- phó TGĐ của tập đoàn. Có những cán bộ đã bị Thanh tra Chính phủ (năm 1999) yêu cầu buộc thôi việc, nhưng sau một thời gian ngắn lại được bố trí phụ trách xuất khẩu hàng triệu tấn than mỗi năm (cả chính ngạch và tiểu ngạch), thậm trí có người còn lên chức "cố vấn" của cơ quan quản lý cao nhất của tập đoàn.

Từ những năm 80 của thế kỷ trước, ngành than đã tổ chức thi tuyển giám đốc mỏ. Ngày nay, TKV cũng "thi" giám đốc, nhưng "thi" chỉ để tham khảo, người có điểm thấp hơn lại được đề bạt. Có cán bộ không đủ phiếu tín nhiệm làm giám đốc mỏ thì lại được đề bạt lên làm phó TGĐ tập đoàn. Có giám đốc cố ý làm thất thoát vài tỷ đồng thì kiểm điểm hàng năm trời để cảnh cáo, còn giám đốc chỉ ghi nhầm tài khoản (chưa mất đi đâu) hơn trăm triệu đồng thì "được" thôi chức trong vòng 12 tiếng.v.v...

10/ Chưa tạo ra được thế mạnh cạnh tranh cốt lõi (thay cho lời kết):

Xét theo quan điểm thị trường, thế mạnh cạnh tranh cốt lõi của ngành than trong thời gian qua chỉ là xuất khẩu than do cơ chế quản lý và điều kiện tự nhiên mang lại. Ngành than chưa tạo ra được thế mạnh cạnh tranh cốt lõi của riêng mình. Mọi thành tích đã qua của ngành than đều có nguồn gốc xuất phát từ việc biến độc quyền nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp trong khai thác và tiêu thụ than, đặc biệt là trong xuất khẩu than. Thật khó có thể chỉ ra những cái gọi là "thành tích", "tăng trưởng", "về đích sớm", "cải thiện đời sống", "ổn định việc làm", "kinh doanh đa ngành" v.v. nếu TKV không tận dụng xuất khẩu than một cách ồ ạt như thời gian qua.

Nếu như trong thời bao cấp, khó khăn lớn nhất trong sự nghiệp phát triển ngành than là vấn đề thị trườngcơ chế quản lý, thì hiện nay khó khăn lớn nhất trong việc phát triển ngành than là những vấn đề không hề dễ khắc phục trong một vài kế hoạch 5 năm, đó là: môi trường ngày càng xấu, tài nguyên than ngày càng cạn kiệt, kỹ thuật cơ bản về mỏ ngày càng bị vi phạm, và tai nạn lao động chết người vẫn rất cao.

Hai thế mạnh của TKV từ trước đến nay là tài nguyên than và đội ngũ giai cấp công nhân mỏ giàu truyền thống cách mạng. Trong thời gian tới, việc "đi lên từ nguồn tài nguyên và nhân lực" của TKV là một sự thách thức và tốn kém. Nếu chúng ta không cơ cấu lại một cách bài bản ngành kinh tế quan trọng này, việc đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia sẽ còn bị bỏ ngỏ.

 

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu