Vẫn những “bài ca” năm xưa
Với những người đã làm hại uy tín nghề nghiệp của mình qua cuộc tranh luận về sự đi xuống của Mỹ trong những năm 1980 và đầu thập niên 1990, sự trở lại của chủ đề này trong những năm gần đây hẳn đã khuấy lên cảm giác hoài niệm xen lẫn lo âu.
Tuần Việt Nam gửi tới bạn đọc bài viết của tác giả Aaron L. Friedberg trên tờ American Interest, số tháng 11-12, phân tích những quan ngại về quyền lực và vị trí của một "siêu cường" Mỹ trong quá khứ và cả tương lai.
Hiện tại, như khi đó, sự tương đồng của lịch sử được cân đo đong đếm với bao lãng quên đến cẩu thả. Những tiên đoán bi quan xuất hiện mọi nơi, đặc biệt từ cánh tả ở trong và ngoài nước Mỹ, với một sự thỏa mãn nhất định: một nước Mỹ ngạo mạn và quá dàn trải sẽ bị trừng phạt. Một lần nữa, những phản lập luận cũng được đưa ra (hầu hết là từ cánh hữu) nhằm thách thức những dự báo đó và nhắc nhở tất cả về sự bền bỉ đáng kể của hệ thống nước Mỹ.
![]() |
| Hình minh họa. Nguồn ảnh: Corbis |
Việc chúng ta đã biết lần trước câu chuyện cuối cùng kết thúc như thế nào có thể làm yên lòng những ai hy vọng về thời gian dài nhất từ trước tới nay trong đó nước Mỹ là đứng đầu. Chắc chắn rằng những người “bi quan” sẽ lại thất thế và nước Mỹ sẽ từ những rắc rối hiện tại trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Có thể như thế, có thể không. Thế giới của hôm nay rõ ràng là rất khác hai thập kỷ trước, và trên nhiều phương diện, nước Mỹ cũng vậy. Những nhân tố cho phép Mỹ phục hồi sau những hao tổn của Chiến tranh lạnh có thể giờ đây không còn nữa. Những tiên đoán trước đây về sự suy thoái của nước Mỹ bị bác bỏ không có nghĩa là những dự báo hôm nay cũng vậy. Theo lời cảnh báo sâu sắc quen thuộc gần đây của Phố Wall, “thành công quá khứ không đảm bảo cho kết quả trong tương lai”.
Từ bi quan tới lạc quan
Những lo lắng về suy thoái không có gì là mới. Năm 1989, khi một vòng xoáy lo lắng lan rộng, Samuel Huntington đã tính ra có 4 làn sóng bi quan giữa lòng nước Mỹ trong giai đoạn sau Thế chiến II. Cuối những năm 1950, người Mỹ sợ rằng họ sẽ tụt lại sau Liên Xô trong cuộc đua về không gian và về tổng sản phẩm quốc nội. Cuối thập niên 1960, lãnh đạo nước Mỹ tin rằng hệ quả dai dẳng của chiến tranh Việt Nam sẽ hạn chế khả năng của nước này khi các trung tầm quyền lực trỗi dậy ở châu Âu và Đông Á.
Vài năm sau, cuộc khủng hoảng dầu lửa 1973 – 1974 có vẻ như báo hiệu một kỷ nguyên tăng trưởng thấp, lạm phát cao và suy thoái gia tăng. Cuối thập kỷ đó, tình hình còn có vẻ ảm đạm hơn. Cách mạng Iran dẫn tới khủng hoảng giá dầu lần thứ hai và một cuộc khủng hoảng kinh tế mới, cùng với việc Liên Xô không ngừng tăng cường hiện diện quân sự và hoạt động tại Thế giới thứ Ba, đỉnh cao là can thiệp ở Afghanistan, dường như đã thách thức sâu sắc nước Mỹ.
Đối với Huntington, “bi quan” có một tác dụng quan trọng, thu hút lòng người: nó khuấy động nước Mỹ để nỗ lực gấp đôi, thay đổi phương thức và làm mới những nguồn sức mạnh sâu sắc nhất. Quyết định trong thời gian đầu cầm quyền của Ronal Reagan là cắt giảm thuế, giảm can thiệp và tấn công lạm phát nhằm thúc đẩy tăng trưởng, đồng thời tăng cường quân đội Mỹ và rắn mặt với Liên Xô giờ đây có thể được xem là minh chứng kinh điển cho lập luận của Huntington. Sẽ là chưa đủ nếu nói rằng ở thời điểm đó những biện pháp này không được nhìn nhận như thế. Ngược lại, khi thập niên 1980 dần trôi qua và Mỹ chịu thâm hụt tiền tệ và thương mại ngày càng lớn, nhiều nhà quan sát đã kết luận rằng chính sách của Reagan thực tế đã đẩy nhanh nước Mỹ vào vòng tròn luẩn quẩn.
Lập luận có ảnh hưởng nhất trong số này là của Paul Kennedy trong cuốn Hưng thịnh và suy vong của các siêu cường (1987). Dựa trên các ví dụ trong gần 500 năm lịch sử thế giới, Kennedy kết luận rằng Mỹ đã trở thành nạn nhân cho sức cuốn hút của “tình trạng quá dàn trải của đế quốc”. Nhiều thập niên chi trả cho tình trạng sẵn sàng chiến đấu và phiêu lưu ở nước ngoài đã bòn rút nhiều nguồn lực lẽ ra dành cho đầu tư sinh lời, hạn chế tốc độ tăng trưởng kinh tế và làm xói mòn nền tảng của sức mạnh Mỹ. Như nước Anh trước đó, Mỹ đã trở thành một “người khổng lồ kiệt sức”, sa lầy dưới sức nặng của tất cả những cam kết toàn cầu và ngân sách quân sự quá mức. Theo quan điểm này, thay vì giúp phục hồi sức mạnh, chính sách của Reagan chỉ làm người khổng lồ thêm oằn lưng.
Kennedy có được may mắn chứng kiến cuốn sách của ông xuất hiện chỉ vài tuần sau khi thị trường chứng khoán sụp đổ tháng 10/1987 và tới 2 năm trước khi sự sụp đổ của Liên Xô cho thấy siêu cường nào mới thực sự phải gánh chịu “dàn trải đế quốc”. Bất chấp sự chuyển đổi quyền lực đầy ấn tượng và, theo quan điểm của Mỹ, rất thuận lợi sau khi Chiến tranh lạnh chấm dứt, những lo ngại về sự suy thoái vẫn tiếp tục tồn tại trong những năm 1990. Kiệt quệ sau những chi phí hao tiền tốn của, Mỹ được coi là sắp sửa bị Nhật hoặc một châu Âu trên đường thống nhất vượt qua về kinh tế (sự trỗi dậy của Trung Quốc chưa thu hút sự chú ý của những người bi quan).
Bất chấp sự sai lệch rõ ràng trong lập luận mang tính bào chữa của Gorbachev, nhiều nhà phân tích phương Tây vội vã hùa theo phát biểu của ông ta: “Tôi cho rằng tất cả chúng ta đều thua trong Chiến tranh lạnh”. Một lập luận phổ biến khác nhưng cũng không vượt qua được phép thử của thời gian, như ứng cử viên tổng thống của đảng Dân chủ năm 1992 Paul Tsongas đã nói, rằng: “Chiến tranh lạnh đã kết thúc và Nhật Bản thắng lợi”.
Phải đến giữa những năm 1990, những bi quan về suy thoái mới hoàn toàn vắng bóng. Sự sụp đổ của bong bóng tài sản Nhật Bản và suy thoái kinh tế kéo dài sau đó, tăng trưởng trì trệ của châu Âu và sự bùng bổ năng suất lao động nhờ công nghệ thông tin ở Mỹ đã cùng nhau đảm bảo rằng Mỹ vẫn duy trì vị trí nền kinh tế số một thế giới. Trong khi đó, tại Iraq và cả Kosovo, Mỹ đã chứng minh sự thực hiển nhiên về khả năng triển khai quân đội áp đảo ở tầm xa và cả về khoảng cách ngày càng xa giữa nước này và bất kỳ đối thủ cạnh tranh tiềm tàng nào khác.
Bất chấp tất cả những điều đó, người Mỹ không nhanh chóng nhận thức được hệ quả của sự sụp đổ của Liên Xô. Nằm trong số những người đầu tiên như vậy là Charles Krauthammer, năm 1990 đã nói tới sự chấm dứt của kỷ nguyên hai cực và mở đầu của “thời khắc đơn cực”. Tương tự như vậy, tài liệu “Định hướng hoạch định chính sách quốc phòng” năm 1992 của chính quyền sắp mãn nhiệm G. Bush ghi nhận sức mạnh vượt trội mới của nước Mỹ và kêu gọi hành động nhằm kéo dài trạng thái này bằng cách ngăn chặn sự nổi lên của một đối thủ cạnh tranh như Liên Xô.
Nhưng đây không phải là những quan điểm chính thống. Chỉ đến cuối những năm 1990 mới có số đông nhận thức rõ vị trí bất bình thường của nước Mỹ. Trong một bài báo đăng năm 1999 được trích dẫn nhiều, nhà khoa học chính trị William Wohlforth đã lập luận thuyết phục rằng trên thực tế thế giới là đơn cực và sẽ tiếp tục duy trì tình trạng này trong thời gian tới. Bước sang thế kỷ mới, quan tâm của các nhà hoạch định chính sách đối ngoại, theo lời của người sẽ sớm trở thành Vụ trưởng Vụ chính sách đối ngoại Bộ Ngoại giao Mỹ Richard Haass, là “làm gì với vị trí số một của nước Mỹ”.
Lược sử “thời khắc đơn cực”
Điều bất ngờ về làn sóng bi quan lần này là ở biên độ dao động (đánh giá về sức mạnh Mỹ lúc cao thì rất cao và đi xuống rất nhiều từ khi đó) và cả những thay đổi quá nhanh của nó. Chính quyền Bush bắt đầu nắm quyền trong sự tự tin về uy thế của nước Mỹ, đặc biệt là về quân sự, và quyết tâm duy trì điều đó. Họ dự định triển khai bằng cách ngăn chặn sự lan rộng của các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt, xây dựng các hệ thống phòng thủ tên lửa để trung hòa các kho vũ khí của các nước “bất hảo” và “chuyển biến” quân đội Mỹ nhằm sẵn sàng với chiến tranh thế kỷ 21 chống lại các đối thủ tân tiến. Bush và các cố vấn đã không hào hứng với việc sử dụng sức mạnh áp đảo của Mỹ. Ngược lại, họ cố gắng tránh những cuộc can thiệp không được chuẩn bị tốt và cả những nố lực “xây dựng đất nước” mà họ coi là điển hình cho những năm Clinton cầm quyền.
![]() |
| Hình minh họa. Nguồn ảnh: Corbis |
Sự kiện 11/9 có thể không”thay đổi tất cả mọi thứ”, nhưng nó đã thay đổi chiều hướng của chính quyền Bush trong chính sách an ninh quốc gia. Vụ tấn công đã cho thấy sự mong manh của nước Mỹ bất chấp vị trí số một, và khởi động cho hai biểu hiện ấn tượng của sức mạnh và quyết tâm của nước Mỹ. Cuộc tấn công Afghanistan và lật đổ Taliban diễn ra trong vòng hai tháng, hầu như không hề có chuẩn bị trước và bất chấp những cảnh báo về nguy cơ sa lầy như Liên Xô đã mắc phải trong những năm 1980. Quá trình đi tới chiến tranh Iraq và giai đoạn đầu của cuộc chiến càng tăng cường nhận thức về sức mạnh và quyết tâm của Mỹ. Mặc dù gây ra va chạm ngoại giao nghiêm trọng, nhưng ở một chừng mực nhất định, quyết định đi tới chiến tranh của chính quyền Bush bất chấp phản đối của nhiều nước cũng như khả năng lật đổ Saddam với ít thương vong chỉ trong vòng vài tuần đều rất gây ấn tượng. Đầu năm 2003, đối với phần còn lại của thế giới, dường như Mỹ có thể sử dụng lực lượng áp đảo bất kỳ khi nào và ở đâu họ muốn.
Tất nhiên là khả năng này cũng nằm trong suy nghĩ của những ai có lý do mà cho rằng họ sẽ là nhân vật tiếp theo trong danh sách của Washington. Trong số đó có: chính quyền Iran, mà nếu như Báo cáo Tình báo quốc gia 2007 là đúng thì sau cuộc xâm lược Iraq đã chấm dứt phần chương trình hạt nhân có liên quan nhiều tới lĩnh vực quân sự của nước này; nhà lãnh đạo Libi Qaddafi - người cùng thời gian đó đã từ bỏ chương trình vũ khí hủy diệt hàng loạt bí mật; và nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-il - người dưới sức ép của Trung Quốc đã đồng ý thương lượng về chương trình hạt nhân từ mùa xuân năm 2003.
Những nhân vật lo lắng đó không phải là những người duy nhất bị gây ấn tượng. Những đánh giá của các học giả về sức mạnh Mỹ tăng vọt trong giai đoạn sau sự sụp đổ của Taliban cho tới sự ra đi của Saddam. Tháng 2/2002, Paul Kennedy kết luận rằng lợi thế của Mỹ lớn tới mức không có tiền lệ: “Không gì có thể sánh được sự chênh lệch về sức mạnh này”. Các nhà bình luận thi nhau đưa ra các so sánh lịch sử, nhưng rốt cục không so sánh nào là tương xứng. Kể cả khi thống trị đại dương, nước Anh không thể sánh được các đối thủ châu Âu trên đất liền. Kể cả Rome ở thời gian đỉnh cao thì ngày nay chỉ có thể được coi là “cường quốc khu vực”.
Chính trong những tháng này mà các nhà quan sát cả cánh tả và cánh hữu bắt đầu nói tới một đế chế Mỹ mới. Khi Washington lật đổ những chế độ độc tài hỗ trợ và dung dưỡng khủng bố, nước này tự đặt mình trong bối cảnh phải áp đặt trật tự và giám sát sự thành lập của các chế độ mới và (tốt nhất cần phải là) dân chủ. Thay vì tìm cách trốn tránh trách nhiệm này, người ta kêu gọi Mỹ gánh vác. Rốt cục thì như cây bình luận bảo thủ Max Boot viết tháng 5/2003: “Chúng ta đang chuẩn bị được gọi là một đế chế dù chúng ta có làm gì chăng nữa. Chúng ta cũng có thể trở thành một đế chế thành công”. Đánh giá này dù có trái với truyền thống phi đế chế của Mỹ, ngạc nhiên thay đã có tiếng vang trong một số giới. Theo nhà báo Ron Suskind, mùa hè năm 2002 một quan chức Nhà Trắng nói thẳng với ông: “Chúng ta hiện là một đế chế, và khi chúng ta hành động, chúng ta tạo ra thực tế của chính mình”.
Giờ đây nhìn lại, đỉnh cao của dòng lập luận này có lẽ là vào ngày 1/5/2003, khi Tổng thống Mỹ Bush đứng trước một băng-rôn “Nhiệm vụ Hoàn thành” và tuyên bố kết thúc các “hoạt động quân sự chính” tại Iraq. Kể từ lúc đó, mọi thứ đi xuống nhanh chóng. Chỉ trong vòng vài tháng, rõ ràng là Mỹ phải đối mặt không chỉ là những người cho rằng sẽ là một kết cục cay đắng, mà còn là một làn sóng nổi dậy ngày càng lan rộng mà Mỹ không hề dự liệu và cũng không biết phải làm sao để khống chế. Việc thừa nhận thực tế này đã bắt đầu cho những đánh giá lại về sức mạnh Mỹ cả trong và ngoài nước.
Khi bạo lực sắc tộc vượt khỏi tầm kiểm soát, và khi có vẻ như cuộc phiêu lưu của Mỹ ở Iraq sẽ kết thúc trong thua cuộc và nhục nhã, suy thoái lại trở thành từ cửa miệng. Cây viết người Anh Timothy Garton Ash đã nắm bắt tâm lý của mùa hè năm 2006 khi ông “chào tạm biệt thời khắc đơn cực của uy thế dường như không thể thách thức của nước Mỹ”. Sức mạnh Mỹ được miêu tả là đã đạt tới “điểm cực tiểu” và, ngược lại với những quan ngại trước đây, các nhà quan sát ở châu Âu và châu Á giờ đây lo lắng rằng thế yếu bất ngờ của Mỹ, chứ không phải sức mạnh áp đảo của Mỹ, đang “trở thành vấn đề cho thế giới”. Cho tới cuối 2006, kể cả Charles Krauthammer cũng buộc phải kết luận rằng Mỹ đã “đi qua thời cực thịnh” của sức mạnh không có tiền lệ. Thời khắc đơn cực gần như chấm dứt. Kỷ nguyên đa cực mới đang trong tầm tay.
Trong khi có một số ý kiến nghi ngờ, cho tới cuối thời gian nắm quyền của chính quyền Bush (và trước cuộc khủng hoảng tài chính 2008), ý tưởng về việc nước Mỹ đã bước vào giai đoạn suy thoái tương đối đã được thừa nhận rộng rãi. Như Fareed Zakaria giải thích theo cách khiến người ta yên lòng, rằng mọi thứ đang diễn ra không tới mức là Mỹ suy thoái còn “tất cả phần còn lại” đang trỗi dậy. Trong đánh giá định kỳ về các “xu thế toàn cầu”, 4 năm trước CIA còn tự tin dự báo rằng Mỹ sẽ “vẫn là chủ thể hùng mạnh duy nhất về kinh tế, công nghệ và quân sự” nhưng nay thì lại có giọng khác. Phân tích của CIA giải thích rằng “do suy giảm tương đối về sức mạnh kinh tế và ở mức độ thấp hơn là về quân sự”, Washington sẽ đứng trước thực tế rằng ảnh hưởng sẽ ngày càng bị hạn chế. Trong những năm tới, Mỹ sẽ có “ít sức mạnh hơn trong một thế giới đa cực so với [sức mạnh] nước này trước đây đã có được trong nhiều thập kỷ”.
Phương Nam (biên dịch)
(còn nữa....)
- Điện hạt nhân sẽ đắt gấp ba? (12/11/2009 05:00 GMT+7)
- Cách thuyết phục dân tốt nhất là cho thấy chuyển biến thực (11/11/2009 22:52 GMT+7)
- Phòng dịch bệnh bằng truyền thông xã hội (12/11/2009 06:00 GMT+7)
- Sáu sai lầm trong quản lý nguồn vốn (Phần 3) (12/11/2009 06:20 GMT+7)
- Cuộc đối thoại âm nhạc buồn (12/11/2009 06:00 GMT+7)
- Quy hoạch đô thị - trăm năm nhìn lại (12/11/2009 06:00 GMT+7)
- Tái cấu trúc nhìn từ cách Vinashin xài vốn nhà nước (12/11/2009 06:15 GMT+7)
- Đàn khủng long của nền kinh tế vị thành niên (12/11/2009 06:30 GMT+7)
- Chọn mô hình phát triển tập đoàn theo hình tháp? (11/11/2009 06:00 GMT+7)
- Lãnh đạo phải thể hiện được suy nghĩ của nhân dân mình (11/11/2009 10:00 GMT+7)

