Từ “Đế chế” tới “Đế chế sụp đổ”

Một số nhà quan sát đã nhầm một cách cơ bản khi đánh đồng “sức mạnh là khả năng kiểm soát nguồn lực” với “sức mạnh là khả năng kiểm soát kết quả”. Chỉ vì nước Mỹ có nền kinh tế lớn nhất và quân đội mạnh nhất không có nghĩa là lúc nào nó cũng có thể khiến mọi người làm mọi thứ nước này muốn.

Vậy sao chúng ta lại đi từ Đế chế (tiêu đề của một cuốn sách được đón nhận năm 2003 của sử gia Niall Ferguson) tới “Đế chế sụp đổ” (tên một bài báo trên tạp chí Vanity Fair tháng 10/2006 của cùng tác giả) nhanh đến thế? Một phần câu trả lời là, như những dự báo trước đây về suy thoái, những thông tin về quyền năng của nước Mỹ đã bị thổi phổng quá nhiều.

Hình minh họa. Nguồn ảnh: Corbis

Một số nhà quan sát đã nhầm một cách cơ bản khi đánh đồng “sức mạnh là khả năng kiểm soát nguồn lực” với “sức mạnh là khả năng kiểm soát kết quả”. Chỉ vì nước Mỹ có nền kinh tế lớn nhất và quân đội mạnh nhất không có nghĩa là lúc nào nó cũng có thể khiến mọi người làm mọi thứ nước này muốn. Dù rất đau đớn nhưng đây là một điều rõ ràng, được minh chứng bởi những sự kiện trong vài năm qua.  Tuy nhiên,  thực tế này vẫn hay bị lãng quên.

Trong số nhiều nguồn gốc của những mâu thuẫn có thể cản trở khả năng chuyển đổi nguồn lực thành kết quả, hai điểm cần chú ý đặc biệt. Lo sợ về những hệ quả kinh tế và chính trị có thể có, lãnh đạo quốc gia thường lưỡng lự huy động tận cùng sức mạnh tiềm năng để đạt được các mục tiêu. Đặc biệt là trong một chế độ dân chủ, gia tăng mức độ cam kết và những hao tổn nhất thiết đòi hỏi ý chí chính trị. Kể cả khi có quyết tâm cần thiết và có sẵn các nguồn lực, các quốc gia đôi lúc thiếu cả kỹ năng để áp dụng thành công. Do đó, phẩm chất của lãnh đạo, quá trình đào tạo và các học thuyết đi kèm thường quan trọng hơn cả quy mô lực lượng vũ trang.

Iraq cho thấy một ví dụ cho cả 2 điểm trên. Mức độ nhân lực triển khai ban đầu ở đây không phải là hệ quả của bất kỳ giới hạn tuyệt đối nào của quy mô dân số Mỹ, mà là hệ quả của một loạt các quyết định của lãnh đạo về số lượng bộ binh Mỹ cần tham gia và những nhóm nào cần tham chiến. Tương tự, việc Mỹ không thể thiết lập được một dạng trật tự nào đó ở Iraq trong 3 năm đầu chiến tranh không phải chỉ do những khó khăn bản chất của vấn đề, mà là hệ quả trực tiếp của một chiến lược phản tác đụng nhưng người ta vẫn cứng đầu theo đuổi trong giai đoạn đó.

Ngược lại, quyết định của Tổng thống Mỹ Bush gia tăng quân từ cuối 2006 bất chấp ý kiến của hầu hết các chuyên gia, phản ánh một quyết tâm chính trị bất thường. Thành công sau đó của quân đội Mỹ trong việc hạn chế bạo lực ở Iraq, tương tự, là do khả năng của một nhóm các chỉ huy mới của Mỹ trong việc định hình và triển khai một chiến lược chống nối dậy phù hợp hơn.

Bất chấp những tiến bộ từ sau khi tăng quân Mỹ, Iraq vẫn là nhân tố quan trọng nhất giải thích cho sự trở lại bất ngờ của những bi quan. Nếu như mọi thứ diễn ra trôi chảy hơn sau khi chiếm được Baghdad, nhiều học giả có lẽ vẫn đang ca ngợi (và lên án) đế chế Mỹ mới. Không cần phải nói, mọi thứ không như vậy, và thực tế đó - hơn mọi thứ khác -  chịu trách nhiệm trong việc kích động một làn sóng bình luận đầy bi quan.

Những ai nhấn mạnh Iraq trên hết thường coi trải nghiệm của Mỹ ở đây không phải là sản phẩm của những sai lầm có thể tránh được với những hệ quả có thể đảo ngược, mà là một sự trừng phạt tất yếu đối với việc vươn xa quá mức và coi đó là sự khởi đầu của một sự suy thoái lâu dài của của sức mạnh Mỹ. Nhiều lập luận đã được đưa ra, trong đó có ba ý kiến đáng chú ý nhất.

Thứ nhất, một số cho rằng sự ngạo mạn, đơn phương và vi phạm các chuẩn mực quốc tế của chính quyền Bush đã lãng phí “sức mạnh mềm” của Mỹ và kích động một quá trình “cân bằng mềm” cuối cùng sẽ dẫn tới “cân bằng cứng”, trừ khi Washington thay đổi cách hành xử:  Đó là sự thành lập các liên minh chống đối với mục tiêu trung hòa sức mạnh Mỹ. Thứ hai là lập luận rằng chiến tranh Iraq (và chiến tranh Afghanistan) đã làm xói mòn, kiệt quệ và thậm chí có thể “phá hỏng” quân đội Mỹ, đặc biệt là lục quân và lính thủy đánh bộ. Tệ nhất là với việc lật đổ Saddam, Mỹ trên thực tế có thể đã đẩy nhanh tiến trình phổ biến hạt nhân do gián tiếp thuyết phục các chế độ "bất hảo" (như Bắc Triều Tiên và Iran) rằng: họ phải có vũ khí hạt nhân mới có thể răn đe các cuộc tấn công của Mỹ. Thứ ba, lặp lại lập luận của Paul Kennedy hai mươi năm trước, một số nhà quan sát khẳng định rằng Mỹ đã làm trầm trọng thêm những khó khăn kinh tế về lâu dài khi biến thặng dư ngân sách rất cao thành thâm hụt ngân sách, nâng cao mức nợ và chuyển nguồn lực từ đầu tư sinh lời sang những tham vọng đế quốc.

Một số trong những ý kiến này cần được xem xét nghiêm túc hơn. Ví dụ, phổ biến vũ khí hạt nhân sẽ gây nhiều khó khăn cho khả năng Mỹ triển khai và sử dụng quân đội ở một số khu vực then chốt. Nhưng quá trình này, cùng với các chương trình hạt nhân bí mật của Bắc Triều Tiên, Iran, Libi và Syria, và các vấn đề khác, đã có từ trước 11/9. Những quan ngại của Mỹ về hệ lụy của phổ biến hạt nhân và những nỗ lực hung hăng của chính quyền Bush nhằm ngăn cản điều đó không tạo ra vấn đề, chúng chỉ đưa vấn đề lên hàng đầu trong chương trình nghị sự an ninh quốc gia.

Tương tự, những ý kiến về tầm quan trọng của “sức mạnh mềm” và “cân bằng mềm” cũng đã bị nói quá. Một mặt, quan điểm rằng Mỹ đã đánh mất điều gì đó mà nước này từng có thừa mặc định rằng đã từng có một kỷ nguyên vàng; khi đó Mỹ thấy thật dễ dàng thuyết phục người khác “muốn điều Mỹ muốn”. Trong khi đó liên minh “cân bằng mềm” mà một số chuyên gia cho rằng đang nổi lên trong những năm 2003 – 2004 (trong đó có Nga, Đức, Pháp, Trung Quốc) đã không thành hiện thực.

Những lập luận về tầm quan trọng của “sức mạnh mềm” đang được thử nghiệm. Chính quyền Obama không dính tí tì vết nào của người tiền nhiệm và đã có một số động thái (như công bố dự định đóng cửa nhà tù ở Guantanamo, rút quân hiệu quả khỏi Iraq và trực tiếp đối thoại với Iran, Syria và Bắc Triều Tiên) nhằm tái thiết lập uy tín và tăng cường ảnh hưởng của Mỹ. Các cuộc thăm dò dư luận cho thấy nước Mỹ được nhìn nhận tích cực hơn kể từ sau cuộc bầu cử tổng thống năm 2008. Tuy nhiên vẫn còn phải xem xem liệu những dấu hiệu đó có đủ để khiến các nước châu Âu cử thêm quân tới Afghanistan, hay để thuyết phục Nga giúp xử lý Iran, hoặc tranh thủ Trung Quốc định giá lại đồng nhân dân tệ. Gần một năm qua, sự cuốn hút của chính quyền Obama đem lại rất ít kết quả cụ thể.

Một cái giá vô hình của Iraq mà không thu hút sự chú ý đáng có là những tổn thất trong nhận thức của nước ngoài về năng lực của Mỹ trong tình báo, ngoại giao và hoạt động quân sự. Điều này có thể đã được đảo ngược một phần với tác động của việc tăng quân, nhưng cần có nhiều thời gian để phục hồi đầy đủ. Hiện nay, bất kỳ ảo tưởng nào rằng Mỹ thấy hết, biết hết và rất có kỹ năng tới mức không thể thất bại đều không thể tồn tại được. Không may là đánh giá thực tế hơn về sức mạnh Mỹ từ những đối thủ tiềm năng chỉ làm phức tạp thêm những nỗ lực trong tương lai của Mỹ nhằm răn đe hoặc ngăn ngừa những đối thủ như vậy.

Bên cạnh Iraq, một nhân tố khác dẫn tới sự bi quan hiện nay là điều mà Zakaria và một số người khác gọi là “sự trỗi dậy của phần còn lại” – sự phát triển nhanh chóng của các nền kinh tế phi-phương-Tây so với sự phát triển của các nước công nghiệp tiên tiến. Xu hướng này là có thực, nhưng bất chấp hàm nghĩa của cụm từ này, xu hướng đó khó có thể là động cơ của việc phân tán quyền lực trong cả hệ thống quốc tế. Không phải tất cả “phần còn lại” đều đang trỗi dậy, ít nhất là trên phương diện so với quyền lực với Mỹ. Trong khi nhiều nước nhỏ sẽ hoạt động năng suất hơn và thịnh vượng hơn bao giờ hết, hầu hết tăng trưởng dự kiến trong tổng sản phẩm toàn cầu (chỉ số quan trọng hàng đầu về sức mạnh quốc gia) chỉ tập trung ở cái gọi là nhóm BRIC (Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc). Trong số này, hai nước sau tới nay là lớn nhất và quan trọng nhất.

Sự chuyển đổi trọng tâm hiện nay của nền kinh tế thế giới sang châu Á, và đặc biệt là sự trỗi dậy được dự báo của Trung Quốc và Ấn Độ với tư cách các cường quốc kinh tế và quân sự không phải là tin mới. Ngược lại, những diễn biến này đã được dự báo và theo sát từ trước khi chiến tranh Lạnh kết thúc. Tuy nhiên, kể cả theo dự báo lạc quan nhất, cần phải mất vài thập kỷ điều đó mới trở thành hiện thực.

Một nghiên cứu của Goldman Sachs năm 2003 – cơ sở của nhiều thảo luận gần đây – dự báo rằng Trung Quốc sẽ vượt Mỹ về tổng sản phẩm hàng hóa vào năm 2040. (Ấn Độ xuất phát sau và tới giữa thế kỷ sẽ vẫn không thể lấp đầy khoảng cách). Nhưng báo cáo này dự báo trên cơ sở giả định rằng tăng trưởng GDP của Trung Quốc sẽ giảm nhẹ khi nước này phát triển hơn, trong khi tốc độ tăng trưởng năng suất lao động của Mỹ (động cơ quan trọng nhất thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Mỹ) sẽ duy trì thấp hơn những mức cao trước đây.

Để có kết quả như vậy, Bắc Kinh cần tìm cách tránh hoặc giải quyết tất cả những vấn đề xã hội, kinh tế, môi trường và chính trị nước này đang phải đối mặt mà không có thiệt hại hay đổ vỡ lớn nào. Nếu như chính phủ nước này có thể thành công, hơn một tỉ người Trung Quốc sẽ vẫn sẽ hài lòng với thu nhập bình quân bằng mức một phần ba ở Mỹ. Một đất nước như vậy có thể tự hào là nền kinh tế lớn nhất thế giới và - như Liên Xô, nước này có thể tạo nên một thách thức lớn về quân sự đối với Mỹ, ít nhất ở các khu vực xung quanh Trung Quốc. Nhưng vẫn còn một chặng đường dài mới có thể đạt được cân bằng toàn cầu thực sự về tiêu chuẩn sống, trình độ công nghệ và ảnh hưởng chính trị.

Tóm lại, trên thực tế chúng ta đang hướng tới một thế giới trong đó của cải và quyền lực sẽ được phân phối rộng rãi hơn. Nhưng quá trình này đã diễn ra được vài thập niên, và những thử nghiệm và rắc rối của những năm thời Bush - kể cả chiến tranh Iraq, không thay đổi nhiều bản chất và tốc độ của những thay đổi đó. Kể cả khi giả định rằng “phần còn lại” đang đi đúng hướng, phía trước không phải là trật tự đa cực đích thực, với ba hoặc nhiều hơn ba cực tương đối bằng nhau, mà là cái gì đó giống sự trở lại của thế hai cực, với Trung Quốc và Mỹ trội hơn phần còn lại, và Mỹ vẫn vượt xa Trung Quốc.

Quan trọng là tiền

Nếu như không có khủng hoảng tài chính cuối năm 2008, việc Barack Obama đắc cử có lẽ sẽ đánh dấu một điểm uốn trong tâm lý dân tộc và bước đi lên trong đánh giá về sức mạnh Mỹ. Thay vào đó, cuộc khủng hoảng và suy thoái nghiêm trọng sau đó đã càng tăng cường vòng xoáy bi quan và khiến nó sâu sắc thêm.

Hình minh họa. Nguồn ảnh: Corbis

Những người bi quan cảnh báo rằng - như các cuộc suy thoái toàn cầu những năm 1890 và 1930, cuộc khủng hoảng hiện nay cũng sẽ đẩy nhanh những xu thế nền tảng và xúc tiến việc tái cấu trúc trật tự quốc tế. Một số nhà phân tích giờ tiên đoán rằng cuộc khủng hoảng sẽ dẫn tới khoảng cách thường xuyên gia tăng về tăng trưởng dài hạn giữa “phương Tây” và “phần còn lại” và đặc biệt là giữa Mỹ và Trung Quốc, do đó rút ngắn thời gian Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Những vấn đề kinh tế của Mỹ cũng có thế có những hệ quả lâu dài đối với khả năng duy trì lợi thế về “sức mạnh cứng”. Thâm hụt ngân sách lớn, thậm chí còn gia tăng với những nỗ lực kích thích tăng trưởng với các gói kích thích và với chi phí của những chương trình y tế và xã hội, có thể càng tăng thêm sức ép đối với chi phí quốc phòng trong những năm tới. Khi mà Trung Quốc, Nga, Iran và Bắc Triều Tiên và các nước khác đang ra sức trung hòa những ưu thế quân sự truyền thống của Mỹ, Washington có thể sẽ gặp nhiều khó khăn hơn nhằm huy động các nguồn lực để duy trì thế thượng phong.

Việc Phố Wall không thể giám sát chính mình, cùng với hệ quả to lớn đối với phần còn lại của thế giới, cũng có thể làm suy giảm 'sức mạnh mềm' của Mỹ do làm mất uy tín mô hình chủ nghĩa tư bản tự do. Cụ thể hơn, những sự kiện gần đây có thể làm suy giảm vai trò trung tâm của Mỹ trong nền kinh tế thế giới, tiếng nói của nước này trong các thể chế kinh tế quốc tế và đẩy mạnh sự đi xuống của đồng đô la với tư cách đồng tiền dự trữ của thế giới.

Trong khi quá sớm để bác bỏ những điềm báo này, thực tế rằng suy thoái kinh tế toàn cầu có vẻ như đã vượt đáy đã mang lại cơ sở cho lạc quan thận trọng. Đồng đôla cuối cùng sẽ phải chia sẻ vai trò đồng tiền dự trữ với đồng euro và có thể cả đồng nhân dân tệ, nhưng như Barry Eichengreen đã nói gần đây, sự chuyển đổi sẽ từ từ,và còn lâu mới có những thay đổi lớn. Ít nhất là hiện tại, đồng đôla chưa mất sức hút và thực tế còn trở nên hấp dẫn hơn sau những bất ổn gần đây. Bất chấp nhiều bàn luận về sự chấm dứt của mô hình kinh tế Mỹ, hầu hết các nước công nghiệp phát triển và các nước mới nổi đều tỏ ra quan tâm tới tăng cường điều tiết các giao dịch kinh tế chứ không phải quan tâm tới một mô hình thay thế của, chứ không phải một lựa chọn thay thế cho, chủ nghĩa tư bản động lực là thị trường.

Chi phí quân sự của Mỹ chắc chắn sẽ bị hạn chế trong những năm tới, nhưng do hệ quả của chính trị chứ không phải quy luật thép của kinh tế. Nói cách khác, những hạn chế sẽ phản ánh ưu tiên thu thuế và chi tiêu của chính quyền hiện tại chứ không phải là sự hạn chế khách quan về các nguồn lực tài chính. Điều đáng lo lắng hơn cả quy mô tuyệt đối của ngân sách quân sự là khả năng nó sẽ tập trung hướng tới cuộc chiến gần nhất. Tập trung duy nhất vào chuẩn bị cho cuộc chiến chống nổi dậy tiếp theo có thể khiến nước Mỹ trang bị kém để có thể đương đầu với các nước có vũ khí hạt nhân hoặc để phản ứng lại trước việc Trung Quốc tăng cường vũ trang toàn diện.

Hệ lụy lâu dài của cuộc khủng hoảng hiện nay rốt cuộc sẽ phụ thuộc vào việc Mỹ và các nước lớn khác phản ứng tới mức độ nào trước các thách thức mà nó tạo ra. Nếu tất cả đều trở lại xu thế tăng trưởng trước khủng hoảng, hệ quả đối với hình thái đang thay đổi của hệ thống quốc tế sẽ là hạn chế. Nếu một số nước phục hồi sáng sủa hơn các nước khác, và nếu những thay đổi là lâu dài, thì hệ lụy sẽ đi xa hơn nhiều.

Trung Quốc và Mỹ rõ ràng là hai chủ thể quan trọng nhất trên phương diện này. Bắc Kinh nói chung đã nhận được điểm cao bởi những phản ứng ban đầu đối với khó khăn kinh tế nghiêm trọng đầu tiên mà nước này phải chịu trong gần 2 thập kỷ. Tuy nhiên, trong khi kinh tế Trung Quốc không suy thoái như nhiều nước công nghiệp phát triển khác, mức suy giảm trong tốc độ tăng trưởng của nước này đã khiến tăng trưởng giảm xuống dưới mức 7% là mức từ lâu được coi là tối thiểu để duy trì việc làm và đảm bảo ổn định xã hội. Nếu như không sớm phục hồi, một giai đoạn tăng trưởng tương đối thấp kéo dài có thể châm ngòi cho những khủng hoảng xã hội và chính trị lớn ở Trung Quốc, có thể làm chệch hướng những tiến bộ nhanh chóng và xóa đi tất cả những dự báo về sự trỗi dậy tương lai của nước này.

Thế còn nước Mỹ? Một lần nữa, quá sớm để kết luận. Có một nguy cơ thực sự rằng cuộc khủng hoảng sẽ dẫn tới gia tăng vai trò của chính phủ trong nền kinh tế quốc dân, gia tăng gánh nặng thuế, chi tiêu phi kinh tế, chủ nghĩa bảo hộ và hạn chế nhập cư, tất cả sẽ làm giảm tăng trưởng và khiến những dự báo bi quan gần hơn với thực tế. Tuy nhiên, những sự kiện gần đây cũng có thể kích thích một làn sóng “phá hủy sáng tạo” mới trong tài chính và sản xuất, một sự gia tăng lâu dài trong tỉ lệ tiết kiệm quốc dân, gia tăng có lựa chọn trong chi tiêu chính phủ về hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, giáo dục và khoa học cơ bản, và động lực mới cho đầu tư tư nhân trong năng lượng, thông tin và công nghệ sinh học.

Cũng như cuối những năm 1980, sẽ là không khôn ngoan nếu bác bỏ sự bền bỉ và khả năng thích ứng của hệ thống nước Mỹ. Nhưng cũng sẽ là sai lầm nếu mặc nhiên công nhận những đặc tính đó, hoặc giả định rằng chúng sẽ giúp nước Mỹ mãi mãi và không cần nỗ lực gì nhằm đối phó với sự suy giảm tương đối.