Thông tin cần cho sự đồng thuận của Quốc hội
Cuộc thảo luận về tình hình kinh tế - xã hội và sử dụng ngân sách nhà nước trong mấy ngày qua, ở tổ cũng như tại hội trường, cho thấy không ít đại biểu Quốc hội bày tỏ trong một chừng mực nào đó sự chưa đồng tình với các báo cáo của Chính phủ trên nhiều nội dung. Tại sao? Phải chăng các thông tin mang lại cho Quốc hội trong các báo cáo này chưa đáp ứng sự chờ đợi của đại biểu Quốc hội?
LTS: Với kinh nghiệm nghị trường, nguyên ĐBQH Nguyễn Ngọc Trân góp thêm tiếng nói luận bàn về báo cáo tình hình KT - XH của chính phủ vừa được thảo luận tại kỳ họp Quốc hội tuần qua. Bài viết thể hiện góc nhìn riêng của tác giả.
1. Các báo cáo của Chính phủ chưa đề cập đầy đủ những vấn đề bức xúc đối với người dân và nhiều vấn đề hệ trọng khác
Phát biểu của nhiều đại biểu cho rằng bức tranh kinh tế xã hội được mô tả bằng những chỉ tiêu vĩ mô trong các báo cáo mà cấu trúc cơ bản không thay đổi qua các năm, trong khi các vấn đề khiến cho người dân bức xúc, những vấn đề rất thường nhật nhưng phản ánh nỗ lực và năng lực quản lý của Chính phủ ngày càng tăng, lại không được đề cập [1]. Các con số về các chỉ tiêu vĩ mô là cần nhưng chưa đủ. Điều mà đại biểu Quốc hội chờ đợi là những thông tin về thực tế kinh tế xã hội và việc thực hiện các giải pháp của Chính phủ (bao gồm cả gói kích thích kinh tế) cho tới thời điểm hiện nay và trong thời gian sắp tới.
Báo cáo cho biết bội chi ngân sách năm 2009 dự kiến sẽ bằng 6,9% của GDP, và tổng vốn đầu tư toàn xã hội lên đến 42,2% của GDP, vượt cả chỉ tiêu 39,5% mà Quốc hội đã nghị quyết trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang khủng hoảng. Có lẽ Quốc hội sẽ chấp nhận mức bội chi ngân sách đó, nếu báo cáo làm rõ được hiệu quả của việc sử dụng nguồn vốn ngân sách ra sao, sự chuyển biến từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, tình hình chống tham nhũng, lãng phí, thất thoát và thất thu ngân sách đã đi đến đâu, được cải thiện ra sao, v.v... Không có được thông tin đó mà chấp nhận mức bội chi ngân sách đề nghị cho năm 2010 chẳng khác nào Quốc hội chấp nhận cùng làm một bài toán trừ đơn giản với Bộ Tài chính!
![]() |
| Bên hành lang kỳ họp Quốc hội. Ảnh; LN |
Để chủ động hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, Chính phủ đã thành lập, tính đến nay đã suýt soát 15 năm, khoảng 94 tổng công ty 90, 91, và từ năm 2004 đến nay 8 tập đoàn. Chủ trương của Đảng và Nhà nước là xây dựng các tổ chức kinh tế này thành những "công cụ mạnh" của nền kinh tế quốc doanh, của chế độ. Thế nhưng trước những thông tin không mấy "sáng sủa" về một số tập đoàn, và tình trạng đầu tư ngoài nhiệm vụ chính khá phổ biến của các tập đoàn [3], đại biểu Quốc hội chờ đợi các báo cáo cung cấp những thông tin về hoạt động và sự gánh vác của các tập đoàn ra sao trong giai đoạn kinh tế khung hoảng hiện nay. Quá ít thông tin trong các báo cáo về nội dung này!
Đại biểu Quốc hội cũng như cử tri đặt niềm tin vào các tổ chức kinh tế nhà nước và chính vì vậy họ mong được thông tin nhiều hơn, sâu hơn nội dung mà Phó Thủ tướng thường trực đã trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội Phạm thị Loan (Hà Nội) tại kỳ họp thứ 5, ngày 13/6/2009 vừa qua [4].
Mười lăm năm đối với các tổng công ty 90, 91 và năm năm đối với việc ra đời của tám tập đoàn, đã trôi qua, yêu cầu cần giải đáp là "đổi mới thế chế, đổi mới quản lý, đổi mới quản lý chủ sở hữu, đổi mới quản trị kinh doanh" đã tiến đến đâu, làm được gì rồi, hay đến nay vẫn còn loay hoay với câu hỏi "đổi mới như thế nào để ...". Và tại sao như vậy?
Dĩ nhiên, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã làm được khá nhiều việc nhưng với giá nào, hiệu quả ra sao so với đồng vốn mà nhà nước đã đầu tư cho, cùng với những ưu ái về tín dụng, về đất đai, về các dự án được thầu, v.v... Khả năng ngân sách nhà nước không phải là vô hạn và còn phải đáp ứng nhiều nhiệm vụ quan trọng khác nữa, câu hỏi là liệu ngân sách có thể chịu đựng được bao lâu nữa hay sẽ ngã quỵ bởi gánh nặng phải cưu mang? Đó là chưa tính đến khả năng trong chừng đó năm sắp tới, các "quả đấm" này đi dần vào suy thoái hoặc biến chất.
2. Phải có một khoảng thời gian tối thiểu từ lúc các đại biểu nhận được các báo cáo kinh tế-xã hội và ngân sách cho đến khi thảo luận. Dường như khoảng cách này ngày càng có xu hướng rút ngắn lại.
Nếu báo cáo của Chính phủ đến tay đại biểu ngày 19/10/2009, một ngày trước khi Quốc hội họp, thì làm sao các đại biểu Quốc hội có thời gian để tìm hiểu những con số mà Chính phủ đưa ra? và nếu đại biểu Quốc hội không yên tâm với sự phân tích và đánh giá của báo cáo thì âu cũng là điều không mấy khó hiểu.
Tương tự, qua báo cáo đề ngày 14 tháng 10 năm 2009 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đại biểu Quốc hội mới được biết cụ thể hơn về gói kích cầu năm 2009 và những kết quả thực hiện các chính sách kích thích kinh tế. Biết là gói chiếm 8% GDP, bằng 30% ngân sách để thực hiện bốn chính sách [5]. Được thông tin là gói đã mang lại nhiều kết quả tích cực, kinh tế vĩ mô cơ bản được ổn định; trong từng ngành, lĩnh vực đều có những chuyển biến tích cực; đã ngăn chặn được suy giảm, từng bước phục hồi nền kinh tế; đã góp phần bảo đảm đời sống nhân dân, nhất là đối với người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, ... Rất đáng để phấn khởi. Nhưng có rất nhiều thông tin cần biết mà đại biểu không tìm thấy được trong báo cáo.
3. Cần chia sẻ đầy đủ các thông tin với Quốc hội và đại biểu Quốc hội
![]() |
| Tại phiên thảo luận tình hình kinh tế - xã hội. Ảnh TTXVN |
+ Bao nhiêu tỷ đồng đã về được với bà con nông dân để minh chứng lời khẳng định long trọng của Chính phủ tại một hội nghị quốc tế ở Hà Nội rằng mục tiêu hàng đầu của gói kích cầu của Việt Nam là vì người nghèo? Tỉ lệ để chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn đạt được là bao nhiêu? để cơ giới hóa sản xuất hay để mua vật tư cho sản xuất?
+ Bao nhiêu phần trăm của gói kích cầu được phân cho các tập đoàn và tổng công ty nhà nước và được sử dụng có đúng mục đích không?
+ Chính sách hỗ trợ tín dụng đã đi vào đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam được bao nhiêu tỉ đồng?
+ Có hay không việc lợi dụng chính sách tín dụng để cho vay lại lấy lãi, để đảo nợ, để đầu cơ bất động sản, và để "lướt sóng" trên thị trường chứng khoán?
Phải làm rõ các câu hỏi trên và các biện pháp khắc phục các khe hở thì việc sử dụng ngân sách nhà nước, thuộc thẩm quyền của Quốc hội, để tiếp tục gói kích cầu mới được Quốc hội chấp nhận, và mới đạt được hiệu quả mong đợi.
4. Qua một số trường hợp cụ thể trên đây, đúng là có độ vênh giữa báo cáo của Chính phủ và các Bộ ngành, và thông tin mà Quốc hội chờ đợi.
Cần phải cung cấp cho Quốc hội, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, những số liệu và những thông tin cần thiết, đầy đủ và đúng lúc.
Với tình trạng hiện nay về báo cáo và thông tin cho Quốc hội, việc đại biểu Quốc hội chưa thật đồng thuận với đánh giá về tình hình kinh tế - xã hội trong các báo cáo là có cơ sở. Cũng vì vậy, "cử tri phải tin vào các Ủy ban của Quốc hội, còn Quốc hội phải tin vào Chính phủ" không phải là một sự đồng thuận cần đạt.
Sự chia sẻ thông tin kịp thời, đầy đủ là một yêu cầu mang tính nguyên tắc. Đó là cơ sở cho sự hợp tác giữa hai thiết chế hành pháp và lập pháp. Tình hình kinh tế càng khó khăn, sự chia sẻ càng phải được coi trọng và nâng cao về chất lượng. Có như thế chúng ta mới thực hiện đúng Khoản 2, Điều 2 của Hiến pháp: "Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
[1] Vì các đại biểu Quốc hội đã phát biểu khá nhiều và khá sinh động, tôi xin phép không nói trở lại.
[2] Các đoạn trong ngoặc kép được trích dẫn từ tham luận-trả lời của Bộ trưởng Bộ Tài Chính Vũ văn Ninh, ngày 28.10.2009 (http://vnexpress.net/GL/Kinh-doanh/2009/10/3BA150D5/)
[3] Nguyễn Ngọc Trân, Tập đoàn, tổng công ty nhà nước và đầu tư ngoài nhiệm vụ chính. Báo Nguoi Đại biểu nhân dân, số ra ngày Chủ nhật ngày 18/10/2009.
[4] Chúng tôi xin trích: "Rất vui mừng là tôi chưa thấy có doanh nghiệp nhà nước nào có tình trạng đuổi việc công nhân (...). Cũng nhờ vậy mà doanh nghiệp Nhà nước của chúng ta trong thời gian qua góp phần tích cực vào kìm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và cũng làm tốt an sinh xã hội. (...)
Tôi không hiểu được nếu như chúng ta không có những quả đấm này, những lực lượng này mà lại có thể điều tiết được nền kinh tế vĩ mô. Chính phủ có thể có chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính sách tín dụng, có ngân sách Nhà nước, nhưng không có công cụ mạnh thì không thể làm được. Chúng ta đã thành công trong giai đoạn vừa rồi, trong đó có sự góp phần rất quan trọng của các tập đoàn kinh tế lớn mà chúng ta đang phát triển. (...)
Vấn đề là chúng ta phải xây dựng có hiệu quả, đổi mới thế chế, đổi mới quản lý, đổi mới quản lý chủ sở hữu như thế nào, đổi mới quản trị kinh doanh như thế nào để nâng cao hiệu quả. Chưa có hiệu quả chúng ta phải thúc đẩy hiệu quả, không phải thấy nó chưa có hiệu quả chỗ này, chỗ khác mà chúng ta lại nói rằng nó là loại không cần thiết."
[5] Theo báo cáo, đó là: (1) Hỗ trợ lãi suất vay vốn tín dụng khoảng 17 nghìn tỷ đồng (1 tỷ USD); (2) Vốn đầu tư phát triển của Nhà nước khoảng 90,8 nghìn tỷ đồng; (3) Thực hiện chính sách miễn giảm thuế khoảng 28 nghìn tỷ đồng; (4) Các khoản chi khác nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội khoảng 9,8 nghìn tỷ đồng.
- Cách thuyết phục dân tốt nhất là cho thấy chuyển biến thực (11/11/2009 22:52 GMT+7)
- Phòng dịch bệnh bằng truyền thông xã hội (12/11/2009 06:00 GMT+7)
- Sáu sai lầm trong quản lý nguồn vốn (Phần 3) (12/11/2009 06:20 GMT+7)
- Cuộc đối thoại âm nhạc buồn (12/11/2009 06:00 GMT+7)
- Tiếp cận sức mạnh mềm của Hàn Quốc (12/11/2009 06:15 GMT+7)
- Tái cấu trúc nhìn từ cách Vinashin xài vốn nhà nước (12/11/2009 06:15 GMT+7)
- Đàn khủng long của nền kinh tế vị thành niên (12/11/2009 06:30 GMT+7)
- Lãnh đạo phải thể hiện được suy nghĩ của nhân dân mình (11/11/2009 10:00 GMT+7)
- Kiến trúc Hà Nội: Không Việt Nam hoá sẽ thất bại (11/11/2009 08:30 GMT+7)
- Loay hoay phim thị trường và phim nghệ thuật (11/11/2009 06:20 GMT+7)

