"Không phải như nguyên bản mới là di sản"

“Bài toán giữa bảo tồn và phát triển. Chúng ta phải uyển chuyển chấp nhận sự thay đổi, không thể cứng nhắc đòi hỏi mọi thứ đều phải như nguyên bản mới là di sản”.

Nhân dịp ca trù và quan họ được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại, chúng tôi đã trao đổi với TS Lê Thị Minh Lý, Phó cục trưởng Cục di sản, Bộ Văn hoá - Thể thao - Du lịch về công tác bảo tồn di sản.

Thêm nhiều cơ hội

TS. Lê Thị Minh Lý. Ảnh: PLTP

- Tin vui ca trù và quan họ Bắc Ninh được UNESCO công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể khá bất ngờ. Là người được tham gia trực tiếp trong dịp UNESCO, bà có thể chia sẻ với độc giả Tuần Việt Nam như thế nào?

Thực ra công tác chuẩn bị đề cử hai di sản này đã diễn ra rất lâu, từ những năm 2002, và bắt đầu được nghiên cứu từ những năm 2005. Khi Công ước UNESCO có hiệu lực từ năm 2003, hình thức công nhận Kiệt tác văn hoá phi vật thể và truyền khẩu  được chuyển sang hình thức công nhận Di sản văn hoá phi vật thể đại diện và Di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo tồn khẩn cấp như hiện nay. Ca trù và quan họ đã được công nhận theo hình thức mới này.

Từ những năm 2005, ca trù đã được công chúng biết đến nhiều hơn và phát triển hơn. Nhiều câu lạc bộ ca trù được mở, nhiều cuộc liên hoan ca trù toàn quốc được tổ chức đã đưa ca trù đến gần với công chúng hơn.

- Sau khi hai di sản được công nhận, Cục di sản đã có những kế hoạch gì để đẩy mạnh hơn công tác bảo tồn?

Đây là một cam kết của quốc gia với UNESCO để bảo tồn hai di sản này. Khi được công nhận rồi, UNESCO đã công nhận đây là di sản của nhân loại và cộng đồng quốc tế. Một mặt là tôn vinh ghi nhận, mặt khác đây cũng chính là biện pháp bảo vệ di sản. Việc bảo vệ không có nghĩa UNESCO sẽ dành khoản tiền lớn cho công tác này, hoặc nếu có cũng chỉ mang tính chất hỗ trợ. Nhưng nhờ có cam kết quốc tế này, chúng ta sẽ có những biện pháp hiệu quả hơn để bảo vệ di sản. Hơn nữa, chúng ta sẽ có những cơ hội để giới thiệu di sản đến với cộng đồng quốc tế. Trong khuôn khổ hợp tác trao đổi văn hoá giữa các quốc gia sẽ tạo ra những cơ hội để di sản phát triển.

- Thưa bà, danh hiệu "Di sản cần bảo vệ khẩn cấp" của ca trù và "Di sản đại diện" của quan họ đựơc hiểu như thế nào?

Đặc điểm của di sản cần bảo vệ khẩn cấp gồm 3 yếu tố: 1 - bài bản và kỹ thuật, yếu tố này nằm ở các nghệ nhân là các chủ thể văn hoá nắm giữ. Hiện tại các nghệ nhân ca trù đều đã lớn tuổi nên phải khẩn cấp thu giữ và lưu truyền lại những bài bản ấy. 2 - Lâu nay ca trù không có điều kiện để thực hành. Các nhà quản lý phải tìm cách hỗ trợ các nghệ nhân có điều kiện thực hành ở cộng đồng. 3 - Công chúng. Nghệ thuật không thể thiếu khán giả, trong khi với cuộc sống hiện nay ca trù không còn được công chúng quan tâm như trước.

Về mặt tính chất, danh hiệu "đại diện" và "khẩn cấp" về bản chất đều là di sản của nhân loại. Nhưng thay vì là "Kiệt tác di sản phi vật thể và truyền khẩu" như trước, UNESCO đưa ra hai danh sách để phân loại. Hai danh hiệu này có thể thay đổi, sau khi ca trù hết nguy cơ thì có thể chuyển sang danh sách đại diện và ngược lại, nếu quan họ được bảo vệ không tốt có thể sẽ được chuyển sang danh sách khẩn cấp. Đây là biện pháp chuyên môn để đảm bảo luôn có sự quan tâm đầy đủ với các di sản.

Bảo tồn di sản: Không thể cứng nhắc

Ca trù (Ảnh: Hoàng Hường)

- Tiếp sau quan họ và ca trù, Cục Di sản sẽ lựa chọn di sản nào để ứng cử lên UNESCO?

Tất cả những đề cử đều phải từ các chủ thể văn hoá. Cục chỉ có tính chất tham mưu, còn quyền quyết định phải do chính quyền địa phương và các chủ thể. Hiện có hai di sản đã được đề cử là hát xoan và Hội Gióng. Chúng tôi cũng đang tích cực tập hợp và kêu gọi các địa phương đề xuất.

- Hát xẩm cũng được coi là loại hình nghệ thuật dân gian khá độc đáo nhưng hiện nay cũng đang có nguy cơ biến mất cùng tuổi tác của những nghệ nhân còn lại như Hà Thị Cầu, Cục có kế hoạch đưa hát xẩm vào bảo tồn hay không?

Chúng tôi đã tư liệu hoá các tác phẩm của cụ Cầu, và hiện cũng đã có những nghệ nhân trẻ được cụ truyền dạy, họ cũng đã và đang thực hành. Nhưng chúng tôi còn phải đánh giá xem hát xẩm có thực sự là một di sản không. Nguyên tắc của di sản văn hoá phi vật thể là phải sống được và phải phù hợp với thời điểm xã hội. Các nhà chuyên môn phải đánh giá được hát xẩm có duy trì được tiếp nối trao truyền không, và với tính chất đặc biệt của hát xẩm, di sản có còn được cộng đồng hôm nay chấp nhận hay không?

- Bà có cho rằng còn có một nghịch lý khác trong công tác bảo tồn những di sản đã được công nhận như "Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên" khiến những di sản này đang bị tách khỏi đời sống vốn có của nó, và đang có nguy cơ bị thương mại hoá hoặc sân khấu hoá?

Đây là một điểm mà UNESCO đã rút kinh nghiệm. Trước đây các di sản thường được đề cử gồm các tập hợp thành tố. Nhưng sau này UNESCO khuyến nghị các quốc gia nên chỉ ra những di sản cụ thể, và phải biết rõ mình bảo vệ cái gì. "Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên" bao gồm rất nhiều thành tố, trong đó nghệ thuật cồng chiêng là cốt lõi. Nhưng để nghệ thuật cồng chiêng sống được đòi hỏi nhiều yếu tố liên quan: tập tục, sự kiện, lý do...

Hiện nhiều tập tục đã bị thay đổi, lúa đã được thay bằng cà phê, nghi lễ cúng thần lúa đã bị bỏ, lễ bỏ mả cũng không còn vì người chết đã được quy tập vào nghĩa trang... Vậy người dân chơi chiêng vào dịp nào. Đây thực sự là bài toán khó với những nhà quản lý và là thách thức với cộng đồng. Bài toán giữa bảo tồn và phát triển. Chúng ta phải uyển chuyển chấp nhận sự thay đổi, không thể cứng nhắc đòi hỏi mọi thứ đều phải như nguyên bản mới là di sản là điều không thể.

- Bên cạnh những di sản phi vật thể, dư luận cũng quan ngại với cách ứng xử với các di sản vật thể đã được công nhận như Vịnh Hạ Long, khiến cho di sản này đứng trước nguy cơ bị UNESCO thu hồi danh hiệu, bà đánh giá sao về việc này?

Tôi không phụ trách di sản vật thể, nhưng tôi suy nghĩ thế này: đây cũng là vấn đề giữa bảo tồn và phát triển. UNESCO đã khuyến nghị cần có cái nhìn tổng thể trong công tác bảo tồn, và phải phụ thuộc rất nhiều vào cộng đồng.

- Xin cám ơn bà Minh Lý!