Tấm gương sáng về một người chỉ huy mẫu mực
Đại tướng Đoàn Khuê là một cán bộ xuất sắc của Đảng ta – tấm gương sáng về một người Cộng sản kiên trung, người chỉ huy mẫu mực, dũng cảm, kiên cường vượt qua khó khăn, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ.
Anh Đoàn Khuê xuất thân trong một gia đình cách mạng trung kiên, ở một vùng quê giàu truyền thống yêu nước. Anh tham gia cách mạng sớm, 16 tuổi đã tham gia hoạt động trong phong trào thanh niên phản đế, làm Bí thư thanh niên huyện Triệu Phong tỉnh Quảng Trị. Trước cách mạng tháng 8 năm 1945 thắng lợi, anh bị địch bắt và tù đày, tra tấn dã man, anh đã tỏ rõ chí khí kiên cường, bất khuất, giữ vững khí tiết người chiến sỹ cách mạng.
Thời kháng chiến chống Pháp, anh Đoàn Khuê hoạt động trên chiến trường Liên Khu 5. Đầu năm 1963, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam bước vào thời kỳ quyết liệt, anh được Đảng cử trở về miền Nam chiến đấu.
Với cương vị Phó Chính uỷ Quân khu 5, anh trực tiếp tham gia chỉ huy các chiến dịch trên địa bàn Quân khu 5 từ năm 1964 - 1975. Đây là một địa bàn chiến lược quan trọng của chiến trường miền Nam và chiến trường Đông Dương, là nơi quân chiến đấu Mỹ đổ vào đầu tiên và cũng là nơi giặc Mỹ ồ ạt vào đánh quyết liệt, liên tục, kéo dài.
Bởi vậy, muốn trụ vững ở Khu 5, không những có lòng dũng cảm, kiên cường mà còn phải có một lập trường kiên định, đức hy sinh, tinh thần bền bỉ dẻo dai và trí sáng tạo trước những thử thách quyết liệt. Dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, anh cũng tìm cách khắc phục khó khăn, vượt qua mọi thử thách để hoàn thành nhiệm vụ được giao, một lòng, một dạ phục vụ suốt đời cho Tổ quốc, cho nhân dân và quân đội.

Anh Đoàn Khuê một người chỉ huy mẫu mực. Ở cương vị nào, nhiệm vụ nào, dù là cán bộ chỉ huy, lãnh đạo cấp chiến thuật hay cấp chiến dịch và chiến lược, dù là cán bộ chính trị hay cán bộ quân sự, anh đều hoàn thành tốt nhiệm vụ, có nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc. Anh có tác phong sâu sát, thực tế, giữ nghiêm kỷ luật và nguyên tắc công tác. Khi làm cán bộ chỉ huy, lãnh đạo ở Khu 5 hay ở chiến trường nước Bạn Cam pu chia, anh sâu sát với bộ đội, kịp thời phát hiện những khó khăn cần tháo gỡ, những thử thách gay gắt cần động viên bộ đội tập trung thống nhất ý chí để vượt qua.
Tôi có hai thời kỳ cùng trực tiếp làm việc với anh Đoàn Khuê. Đó là, khi tôi làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thì anh Đoàn Khuê làm Thứ trưởng kiêm Tổng Tham mưu trưởng. Khi tôi làm Chủ tịch nước thì anh Đoàn Khuê làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Ngày 7 - 12 - 1986, tôi có quyết định làm Tổng Tham mưu trưởng. Việc đầu tiên là tôi đi thị sát biên giới 6 tỉnh phía Bắc. Lúc bấy giờ bộ đội ở biên giới cực kỳ gian khổ, ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, vậy mà ngân sách quốc phòng chỉ mới lo chuyện đời sống, chưa tính đến trang bị đã chiếm 25% tổng ngân sách quốc dân, vì quân số thường trực quá lớn.
Từ biên giới về, tôi báo cáo với anh Văn Tiến Dũng - Bộ trưởng Quốc phòng và hỏi anh: Chừ tiến hành điều chỉnh chiến lược và giảm quân có được không anh? Anh Văn Tiến Dũng nói: Hiện nay quân số thường trực đã rất lớn, mà Bộ Tổng Tham mưu còn đang đề nghị tăng thêm một quân đoàn đứng chân ở đồng bằng Bắc Bộ.
Tình hình này mà giảm quân thì khó, mà để vậy cũng thật khó. Do vậy, đang có ý định phấn đấu đưa lên 1,6 triệu quân nhưng cũng không yên tâm. Trong đó, chi phí quốc phòng tăng, đời sống khó khăn, càng khó khăn hơn. Tăng quân số, tăng chi phí quốc phòng, nhưng an ninh quốc phòng không đảm bảo, nguy cơ độc lập dân tộc trên lĩnh vực quốc phòng tăng lên.
Lúc này, vấn đề đặt ra là làm thế nào để thoát ra khỏi vòng xoáy của mâu thuẫn này mà vẫn giữ được độc lập dân tộc. Tôi đề nghị anh Dũng, trước hết cần quan tâm đến hai vấn đề: Đời sống bộ đội và bố trí lực lượng phòng thủ, sẵn sàng chiến đấu lâu dài. Được anh Văn Tiến Dũng nhất trí, tôi cùng các cơ quan Bộ Tổng Tham mưu đang xúc tiến lo hai việc lớn này, thì tháng 2 năm 1987, tôi nhận quyết định làm Bộ trưởng Quốc phòng. Anh Đoàn Khuê được bổ nhiệm làm Tổng Tham mưu trưởng.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng VI về đổi mới kinh tế, chính trị, quân sự, quốc phòng, anh Đoàn Khuê, tiếp tục làm kế hoạch điều chỉnh chiến lược. Đây là công việc rất khó khăn, phải phát huy trí tuệ của tập thể và đề cao vai trò trách nhiệm dám nghĩ, dám làm của từng người trong cơ quan Bộ Quốc phòng.
Chúng tôi bàn kỹ và thống nhất trong điều chỉnh chiến lược, có vấn đề bố trí lại đội hình chiến lược như thế nào để bảo đảm việc phát huy được sức mạnh toàn dân, toàn diện trong điều kiện đánh lâu dài, tạo nên sức mạnh phòng thủ đất nước và đủ sức mạnh chống được mọi tình huống chiến tranh. Đó là con đường đổi mới xây dựng quân đội nhân dân, đổi mới công cuộc xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân, kết hợp chặt chẽ quốc phòng và an ninh, kết hợp chặt chẽ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Sau khi tôi báo cáo, trình bày ý tưởng về điều chỉnh chiến lược, được Bộ Chính trị nhất trí, chúng tôi tổ chức thực hiện, chỉ đạo các cơ quan Bộ Quốc phòng, trong đó nòng cốt là Bộ tổng Tham mưu tiến hành song song hai việc lớn: Một là, làm kế hoạch và triển khai kế hoạch điều chỉnh bố trí chiến lược và giảm quân số. Hai là, soạn thảo các văn bản, tài liệu, giáo trình và triển khai trên toàn quốc "Thế trận chiến tranh nhân dân" và nhiệm vụ "Quốc phòng toàn dân", làm cơ sở lý luận và thực tiễn để Bộ Chính trị ra Nghị quyết (số 02 /NQ-BCT) xác định nhiệm vụ quốc phòng đến năm 1990 và những năm tiếp theo. Đây là một nghị quyết rất cơ bản về đường lối chiến tranh nhân dân và xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong tình hình mới.
Anh Đoàn Khuê chỉ đạo Bộ Tổng Tham mưu tiến hành nghiên cứu biên soạn và triển khai tổ chức thực hiện. Với tư duy chính trị, quân sự sắc sảo, anh Đoàn Khuê đã tổ chức thực hiện cuộc điều chỉnh chiến lược với tư tưởng xuyên suốt là đánh lâu dài trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi, số quân thường trực ít, nhưng tinh nhuệ, hiện đại, cơ động linh hoạt, xây dựng khu vực phòng thủ bền vững bảo đảm cho dân vừa đánh giặc vừa sản xuất phát triển kinh tế, bảo đảm đời sống.
Việc xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành vững mạnh để chống chiến tranh xâm lược do cấp uỷ Đảng trực tiếp lãnh đạo và điều hành. Bí thư Tỉnh uỷ phải đồng thời là Chủ tịch Hội đồng quốc phòng của tỉnh, là Bí thư Đảng uỷ quân sự tỉnh trực tiếp lãnh đạo, chỉ huy việc xây dựng, phát huy tác dụng khu vực phòng thủ, điều động, chỉ huy các lực lượng vũ trang và lực lượng quần chúng tại chỗ trong tình huống có chiến tranh và cả trong tình huống chống diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ.
Cơ quan quân sự tỉnh, thành là cơ quan tham mưu chỉ huy về công tác quân sự cho lãnh đạo tỉnh, thành. Rồi xây dựng sự liên kết giữa các khu vực phòng thủ với nhau; xác định rõ các "khu vực phòng thủ then chốt", có sự kết hợp giữa các lực lượng vũ trang, giữa các quân khu và Bộ, kết hợp gữa lực lượng chủ lực cơ động của quân khu và chủ lực cơ động của Trung ương. Đặc biệt tăng cường phòng thủ bờ biển, hải đảo và thềm lục địa...
Một vấn đề nữa là chú trọng xây dựng công nghiệp quốc phòng tự chủ, có khoa học kỹ thuật tiên tiến, có lực lượng cán bộ và nhân viên khoa học ngày càng phát triển. Phương hướng là sẽ giảm quân thường trực với số lượng lớn, nhưng lực lượng làm khoa học chỉ nên tăng chứ không giảm.
Công việc khẩn trương, đòi hỏi phải tính toán rất kỹ. Nhiều đêm chúng tôi phải thức trắng để làm việc. Anh Đoàn Khuê chỉ đạo từng việc cụ thể về bố trí lực lượng, từng đơn vị, từng cơ quan một, trong đó đặc biệt chú ý cân nhắc khi bố trí các đơn vị chủ lực cơ động của Bộ, của các quân khu, lực lượng phòng không quốc gia, lực lượng không quân, hải quân. Chú ý khâu bảo quản và hiện đại hoá vũ khí, tiến tới tự động hoá phòng không tầm trung và tầm cao. Hải quân thì đóng được tầu 5000 tấn tiến lên 10.000 tấn.
Trên cơ sở đó, đã bố trí lại lực lượng và tổ chức phòng thủ trên các hướng, các địa bàn chiến lược quan trọng, vùng biển đảo và biên giới đất liền, các trung tâm chính trị, văn hoá, kinh tế... Bảo đảm khả năng phòng thủ của từng địa phương và cả nước vững chắc trong mọi tình huống. Bộ Chính trị quyết định di chuyển vị trí đóng quân của Quân đoàn 3, một trong những quân đoàn chủ lực cơ động của Bộ từ miền Bắc vào Tây Nguyên. Cơ cấu biên chế tổ chức và nhiệm vụ chức năng các học viện, nhà trường trong toàn quân cũng được điều chỉnh thích hợp.
Cùng với việc soạn thảo tài liệu hướng dẫn và triển khai việc xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành là việc biên soạn các tài liệu để tiến hành tập huấn kiến thức quốc phòng và quân sự cho đội ngũ Bí thư Đảng các tỉnh, huyện và tương đương, kể cả các Bộ, Ban, Ngành ở cấp Trung ương.
Các cơ quan Bộ Tổng Tham mưu đã soạn thảo được 21 tài liệu cơ bản để phục vụ cho chủ trương này. Soạn thảo xong, thì tổ chức các lớp tập huấn, rồi tiến hành diễn tập với nhiều tình huống, nhiều tưởng định sát thực tế cả hai nội dung: Chống diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ và đối phó với các tình huống chiến tranh. Điển hình là các cuộc diễn tập ở Hải Phòng, ở Khánh Hoà và ở Đồng Nai.
Tiến hành đồng thời với việc điều chỉnh bố trí đội hình chiến lược là tính toán cụ thể việc giảm quân số để trực tiếp giảm chi phí quốc phòng. Bởi không thể kéo dài tình trạng ngân sách quốc phòng cứ chiếm 25% tổng thu nhập quốc dân, trong đó chưa tính đến trang bị, khi nền kinh tế đang trong tình trạng suy kiệt và khủng hoảng trầm trọng, lạm phát lên tới 774%.
Anh Đoàn Khuê đã nhất trí với tôi, phải cố gắng giảm quân thường trực để làm nhẹ bớt gánh nặng chi phí quốc phòng là trực tiếp góp phần giải quyết khủng hoảng và trực tiếp góp sức vào công cuộc đổi mới đất nước mà Đảng ta vừa khởi xướng.
Lúc này, Bộ Chính trị không nói mức giảm bao nhiêu, mà để Bộ Quốc phòng tính toán sao cho hợp lý. Tôi đưa ra con số giảm trên 60% số quân thường trực và xin ngân sách quốc phòng từ 15% đến 18% ngân sách thu trong nước. Với quân số cuối cùng này, chúng tôi hoàn toàn nhất trí và anh Đoàn Khuê bắt tay vào làm kế hoạch. Với kinh nghiệm thực tiễn cộng với sự thông minh, sắc sảo và tinh thần tận tuỵ, tâm huyết với công việc, anh Đoàn Khuê đã sớm hoàn thành kế hoạch.
Làm xong "Kế hoạch điều chỉnh chiến lược và giảm quân số quân đội", thì anh Đoàn Khuê đưa lên đề nghị tôi ký. Tôi nói: Bản kế hoạch này, anh phải đưa lên Chủ tịch nước ký chứ. Anh Đoàn Khuê còn chần chừ. Tôi lại nói tiếp: Chủ tịch nước - thống lĩnh các lực lượng vũ trang, nên anh phải đưa lên Chủ tịch Võ Chí Công ký, chứ tôi ký là làm sai Hiến pháp.
Khi Bộ Chính trị họp thông qua Kế hoạch điều chỉnh chiến lược và giảm mạnh quân số quân đội, với số lượng lớn, thì Bộ Chính trị nhất trí hoàn toàn, ai nấy đều phấn khởi và thấy nhẹ hẳn đi, gánh nặng ngân sách quốc phòng được giải quyết một cách cơ bản.
Đi đôi với việc giảm quân số, giảm ngân sách quốc phòng, chúng tôi đề nghị với Đảng và Nhà nước có chính sách cụ thể để cải thiện đời sống cho bộ đội tại ngũ. Và giải quyết việc làm cho số cán bộ chiến sĩ xuất ngũ giảm quân số thường trực về địa phương. Đối với cán bộ, chiến sĩ và công nhân viên quốc phòng tại ngũ thì trước mắt là nâng mặt bằng tiền lương của sĩ quan và những người hưởng lương trong quân đội lên 1,5 lần; thứ hai là giải quyết nhà ở cho họ.
Từ lâu vấn đề nhà ở cho các hộ gia đình luôn là chuyện bức xúc và là vấn đề "nóng bỏng và nhạy cảm" trong đời sống của anh chị em. Vì, cái khó khăn nan giải nhất của lĩnh vực này là "cung" không đủ, quá ít đối với "cầu".
Bởi vậy, để giải quyết một cách cơ bản, chúng tôi đã đưa ra một phương cách mới là xin trích một phần quỹ đất quốc phòng ở doanh trại còn bỏ hoang để chia và cấp cho anh em tự xây lấy nhà ở, còn đơn vị thì lo phần cơ sở hạ tầng như đường xá, điện, nước,... cho các khu hộ gia đình. Trong đó ưu tiên cho số anh em giải quyết chính sách ra quân (như về hưu, nghỉ mất sức, gia đình thương binh, liệt sĩ,...). Số anh em không có gia đình ở đô thị, trở về sinh sống ở nông thôn, thì cấp một khoản tiền cùng với doanh cụ, vật liệu xây dựng để anh em có thể xây dựng được căn hộ cấp 4.
Đề nghị của chúng tôi được các đồng chí trong Bộ Chính trị và Nhà nước đồng ý và rất quan tâm. Các đồng chí nói rằng trước mắt là Bộ Quốc phòng tự thu xếp, nếu còn thiếu thì báo cáo để Nhà nước bổ sung.
Sau một thời gian, việc ăn ở , định cư của các hộ gia đình cán bộ, công nhân viên quốc phòng đã được giải quyết một cách căn bản, trong đó có nhiều đồng chí được cấp đất ở vị trí thuận lợi đã thực sự được "đổi đời".
Một vấn đề nữa là giải quyết việc làm cho số anh chị em ra quân giảm quân số thường trực với số lượng rất lớn. Chúng tôi mạnh dạn đề nghị với Bộ Chính trị và một số Bộ, Ban, Ngành có liên quan cho đi xuất khẩu lao động thì phải ưu tiên cho bộ đội. Trung ương nhất trí, các Bộ cũng hoàn toàn ủng hộ. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử quân đội, có những đợt ra quân, anh chị em ở các đơn vị và cơ quan quân đội đi lao động ở nước ngoài, lại được tổ chức thành "đoàn, đội" nề nếp chặt chẽ.
Tính từ năm 1987 đến năm 1990, quân đội đã tổ chức cho 37.338 người đi lao động xuất khẩu. Khi anh em trở về nước, họ vừa có nghề, vừa được "giải quyết chính sách theo chế độ" thoả đáng, vừa có một khoản thu nhập đáng kể để cải thiện kinh tế và ổn định đời sống gia đình. Nhiều đồng chí sang nước bạn chịu khó làm việc, năng động, biết chi tiêu tiết kiệm, nên khi trở về đã có vốn lớn để tiếp tục đầu tư vào sản xuất, kinh doanh, nâng cao mức sống và làm giàu chính đáng, góp phần giải quyết khó khăn chung của đất nước.
Tháng 8 năm 1991, khi tôi lên làm Chủ tịch nước, thì anh Đoàn Khuê làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Trong thời điểm chuyển hướng chiến lược phù hợp với tình hình mới, anh Đoàn Khuê đã cùng Bộ Chính trị đề ra chủ trương chiến lược quốc phòng phù hợp với tình hình đất nước, phù hợp với công cuộc đổi mới, xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với an ninh nhân dân, bảo đảm cho phát triển kinh tế xã hội. Anh có nhiều đóng góp to lớn vào thực hiện chủ trương xây dựng quân đội theo hướng cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đồng thời coi trọng việc xây dựng các khu vực phòng thủ bền vững.
Anh Đoàn Khuê hết sức coi trọng công tác đảng, công tác chính trị, kiên trì xây dựng sức mạnh chính trị - tinh thần của quân đội. Anh luôn chăm lo xây dựng sự đoàn kết trong Đảng, trong quân đội. Anh sống trung thực, khiêm tốn, giản dị, liêm khiết và nghiêm khắc đối với mình, nhưng hết mực thương yêu đồng chí, đồng đội, gần gũi với nhân dân, được quân đội và nhân dân mến phục.
Đại tướng Đoàn Khuê đã cống hiến trọn cuộc đời cho Đảng, cho nhân dân và cho quân đội. Anh ra đi thấm thoát đã mười năm tròn. Tưởng nhớ anh, chúng ta cần học tập đạo đức, tác phong của anh - người Cộng sản kiên trung, người chỉ huy mẫu mực.
- Đại tướng Lê Đức Anh