Căng thẳng ngoại tệ

Để có 1 triệu USD cho một dự án, chúng tôi phải mất cả tuần, với các giao dịch ở 7-10 ngân hàng khác nhau mới huy động đủ, ông Alan Cany, Phòng Thương mại châu Âu Eurocham kể khó khi phải huy động USD ở thị trường Việt Nam.

Hệ quả là các nhà đầu tư phải tìm đến thị trường chợ đen hoặc họ ngần ngại giải ngân khi không chắc chắn về xu hướng sắp tới của tỷ giá.

Câu chuyện ông Alan Cany nêu lên trong Hội thảo "Khủng hoảng tài chính và vấn đề giám sát an toàn vĩ mô" do UB Giám sát Tài chính quốc gia tổ chức ngày 15/10 là một tiếng vang tiếp nối bài viết mới đây trên New York Times: "Sự suy yếu kinh niên của tiền đồng Việt Nam gây thiệt hại cho các DN" - "Vietnam's chronic currency weakness takes toll on firms".

Ảnh: 60s.com.vn
New York Times cũng dẫn lời TGĐ Ford Việt Nam, ông Michael Pease cho biết, có lúc, người của Bộ Tài chính tới và nói chúng tôi không thể có đủ đôla.

"Thực ra vấn đề của Việt Nam không phải là các bạn thiếu tiền USD trên thị trường, mà do người Việt Nam thích tích trữ, không bán đôla, và thiếu cầu nội tệ. Điều này gây áp lực đối với diễn biến tỉ giá", ông Benedict Bingham, GĐ quốc gia của Quỹ Tiền tệ quốc tế IMF phân tích.

Ông Benedict cũng cảnh báo, những câu chuyện xuất hiện như vậy trên tờ New York Times sẽ làm suy giảm lòng tin và sự kì vọng của các nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường Việt Nam.

Còn theo ông Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch UB GS Tài chính quốc gia, "căng thẳng ngoại tệ và vấn đề tỉ giá hối đoái chính là điều khiến Việt Nam mất điểm nghiêm trọng trong các xếp hạng quốc tế gần đây".

Báo cáo cạnh tranh toàn cầu chỉ rõ xếp hạng năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong những năm qua đang có chiều hướng giảm liên tục, từ vị trí 68 năm 2007 xuống vị trí 70 năm 2008 và 75 năm nay. Nguyên nhân cơ bản của việc sụt giảm thứ hạng này là do nhận thức của nhà đầu tư nước ngoài về vĩ mô của Việt Nam giảm sút, ông Benedict cho hay.

"Thế giới nhìn thấy ở Việt Nam rất nhiều tiến bộ, nhưng có 2 thứ ngày càng tồi tệ đi: thủ tục hành chính và thị trường hối đoái. Việt Nam không thiếu đôla nhưng thanh khoản kém", ông Lê Xuân Nghĩa nói.

Các nhà đầu tư còn lo ngại về rủi ro nợ chính phủ ở các thị trường đang nổi như Việt Nam. Theo ADB, dự trữ ngoại hối đã giảm từ 23 tỷ USD cuối tháng 11/2008 xuống còn 17,3 tỷ USD cuối tháng 6/2009. Mức dự trữ này chỉ đủ cho khoảng 3 tháng nhập khẩu và xu hướng suy giảm rõ ràng của nguồn tiền vào: FDI, và tiền gửi tiết kiệm và đầu tư của khu vực tư nhân...

Các chuyên gia kinh tế ước đoán rằng đồng Việt Nam sẽ đi theo hướng giảm giá dần từ nay đến cuối năm. Đây cũng là lý do khiến cho tâm lý gom, giữ USD vẫn rất phổ biến trên thị trường, gây ra những bất cân bằng hiện nay.

Hơn nữa, theo các nhà kinh tế, sự phục hồi của Việt Nam dựa trên tiêu dùng của Chính phủ và tín dụng giá rẻ khó bền. Cùng với nó, trước đây, lãi suất tiền đồng sau khi giảm trừ 4% nếu so sánh gần như tương đương với lãi suất ngoại tệ, khiến nhu cầu vay tiền đồng tăng nhanh làm mất cân đối cung cầu trên thị trường tiền tệ. Khi chính sách hà hơi tiếp sức này dừng lại, cầu về tiền đồng giảm, áp lực lên thị trường lại lớn hơn.

"Một khi thị trường ngoại hối của Việt Nam không được quản lý hiệu quả, mức rủi ro vẫn lớn và sự ổn định vĩ mô bị nguy hiểm", ông Alan nói.

Khi không còn khả năng lựa chọn tăng lãi suất và điều chỉnh tỉ giá, các ngân hàng mất đi năng lực giải quyết vấn đề ngoại hối.

Chiến lược rút lui

Cùng với đề xuất ngừng ngay chính sách hỗ trợ lãi suất 4%, ông Benedict cho rằng, Việt Nam cần "củng cố lại chính sách tài khóa". Đây là 2 chính sách cho ngắn hạn. "Nếu không sớm linh hoạt tỉ giá hối đoái, vấn đề lòng tin và nhận thức của người dân, DN với khung chính sách của Việt Nam bị đe dọa".

Trong tình hình hiện nay của Việt Nam: nợ nước ngoài không nhỏ (theo Standard & Poor's, khoảng 28,8% GDP, trong khi đó nợ Chính phủ tăng lên 44% - theo Tổng cục Thống kê và theo ADB, con số này là 48%), lạm phát có xu hướng tăng lên trong khi giá USD trên thị trường thế giới vẫn đang có xu hướng giảm, thâm hụt cán cân vãng lai cao (theo IMF tháng 10/2009 là 9,7% GDP), việc điều hành tỉ giá không dễ.

Việt Nam cần hành động sớm để tránh lặp lại những vấn đề của năm 2008 như thâm hụt cán cân thanh toán... Năm 2007, khi xuất hiện những vấn đề đầu tiên, phản ứng chính sách đã bị trì hoãn, dẫn tới việc phải áp dụng biện pháp mạnh hơn, với cái giá phải trả cao hơn trong năm 2008: hoạt động của DN và các tổ chức tài chính bị ảnh hưởng.

"Việt Nam có thể làm như 7-8 năm trước, bán USD để tăng tính thanh khoản, hoặc phá giá tiền VNĐ, tạo lòng tin lâu dài cho thị trường", ông Alan Cany gợi ý.

Đây cũng là khuyến nghị được IMF đưa ra từ lâu. Tuy nhiên, ở Việt Nam, nếu phá giá tiền đồng VND thì sẽ rất dễ gây sốc và dẫn đến sự hoảng loạn về tâm lý, chứ không thể tạo lòng tin lâu dài cho thị trường được. Những chuyên gia am hiểu về Việt Nam đều nhất trí là chỉ nên tăng độ linh hoạt trong điều hành tỷ giá, điều chỉnh cách điều hành, chứ không nên phá giá VND, một chuyên gia ngân hàng của Việt Nam nói.

"Thực ra nhiều lần, UB Giám sát Tài chính Quốc gia đã kiến nghị chính sách xử lý vấn đề hối đoái và căng thẳng ngoại tệ", ông Lê Xuân Nghĩa cho hay. "Hi vọng chúng ta sẽ sớm có chương trình tổng thể, xử lý dứt điểm vấn đề. Để kéo dài, chi phí sẽ rất lớn, và kì vọng về tình hình ngày càng xấu đi. Tỉ lệ đôla hóa trong thị trường ngày càng nghiêm trọng".

Thắt chặt hơn chính sách tiền tệ, chính sách tỉ giá linh hoạt hơn, nhất là cách điều hành và có sự phối hợp tốt hơn giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ (vấn đề phát hành trái phiếu và giải ngân) chính là các biện pháp nằm trong chiến lược rút lui khỏi sự can thiệp mạnh của nhà nước như ông Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Quản lý kinh tế Trung ương nói. Theo ông Thành, năm 2010 sẽ là năm của chiến lược rút lui có trật tự.

Tuy nhiên, ông Nghĩa cũng chỉ rõ, không thể ngay lập tức ngưng hỗ trợ lãi suất, vì sẽ gây sốc cho thị trường, khi mức vênh lãi suất giữa Việt Nam và các nước đột ngột tăng. Sự điều chỉnh cần phải từng bước.

Việc điều chỉnh với mức độ nào, và thời điểm ra sao còn dựa trên tính toán các chỉ số kinh tế và xu hướng kinh tế trong và ngoài nước. Và, Việt Nam cần có bước đi sớm hơn các nước trong việc điều chỉnh. Trung Quốc và Indonesia đều có kế hoạch điều chỉnh trong quý I/2010, ông Thành nói.

  • Phương Loan