Thị trường giáo dục: Sợ nhưng không quản và cấm nổi
Phải có những chính sách dựa trên cơ sở lý luận, và định hướng cho các trường ĐH tư thục hoạt động đúng mục đích phi vụ lợi - TS Lê Đông Phương.
Phát triển đại học tư thục là xu thế chung của thời đại. Ngay tại những quốc gia ở châu Âu già cỗi như Anh, Đức, Pháp…họ cũng buộc phải chấp nhận có những người đứng ra xây ĐH tư thục.
Ở Việt Nam, mô hình ĐH hiện đại kiểu phương Tây mới có từ đầu thế kỉ 20, với Trường Cao đẳng Y.
Ngay trong Sài Gòn trước kia, mô hình ĐH tư thục đã có từ những năm 1960 nhưng nó là của các tổ chức tôn giáo. Còn tính chung cả nước, ĐH tư thục được công nhận và được tham gia vào hệ thống GD chỉ có từ năm 1993 trở lại đây, cùng với những chính sách mở cửa của nhà nước.
![]() |
|
Ảnh: tuyensinh.duytan.edu.vn |
15 năm qua là một thời gian còn quá ngắn ngủi, nhưng GD ngoài công lập nói chung, ĐH tư thục nói riêng cũng đã có những bước tiến đáng kể. Từ chỗ là một hệ thống được “thống trị” bởi GD công lập, nay cũng đã có 14-15% số sinh viên nằm trong khối ĐH tư.
Tuy nhiên, khái niệm “tư nhân hóa” GD ở VN thường bị đánh đồng với nghĩa là chuyển đổi sở hữu sang tư nhân - một người đi học thì phải trả tiền, không có sự hỗ trợ của nhà nước.
ĐH tư thục- vụ lợi và phi vụ lợi
Theo quy chế của ĐH tư thục ban hành năm 2005, trong ĐH tư thục có hình thức đại hội cổ đông, những người góp vốn vào có quyền làm chủ, có quyền điều hành.
Điều này khác với một số nước khác khi họ xây dựng ĐH tư thục nhưng phi vụ lợi. Ở đó, khi anh góp vốn vào trường là tạo quyền sở hữu cho một tập thể lớn hơn, không giữ sở hữu riêng.
Ở ta, từ những năm 1993 -1994, tuy gọi là ĐH dân lập (chưa nói là “ĐH tư thục”)… nhưng thực chất trong cách nghĩ, người ta ngầm định tiền đó là của ông A, ông B... Tính vụ lợi của GDĐH tư thục VN rất rõ.
Trước thực tế đó, các nhà hoạt động chính trị, xã hội nước ta thường cảnh báo nói các trường ĐH tư thục phải hướng đến mục đích phi vụ lợi, nhưng ngay cả “phi vụ lợi” là thế nào thì trong các quy định của nhà nước, của ngành GD cũng không định nghĩa rõ ràng, không thể hiện rõ từ quy định về cơ cấu tổ chức và cách điều hành.
Harvard của Mỹ là một ĐH tư rất nổi tiếng, số vốn của họ có lúc lên đến vài chục tỉ đô, nhưng cái quỹ đó không phải “cào” ra để ăn, mà để đầu tư cho các hoạt động của nhà trường. Tiền đưa vào quỹ đó gọi là hiến tặng, không còn khái niệm là ai sở hữu bao nhiêu trong đó.
Ở Việt Nam, ngay trong giai đoạn sơ khai nhất là ĐH dân lập, người ta rất tránh cái khái niệm về sở hữu tư nhân, nhưng vẫn có “chốt sổ”, vẫn phải ghi rõ ràng “ai - bao nhiêu”(!)
Còn nhớ năm 2004, Ban Khoa Giáo TƯ có một cuộc tổng đánh giá mô hình ĐH ở VN, đã có kết luận rằng ĐH dân lập thực ra là… ĐH tư.
Các cơ quan nhà nước đều đã hiểu, nhưng về mặt tâm lý xã hội, nó chưa được thừa nhận ngay. Thực ra đó là một quá trình thuyết phục xã hội chấp nhận mô hình này.
Có thừa nhận hay không một thị trường GD?
Dù muốn hay không, một thị trường GD dường như vẫn đang tồn tại ở VN?
Nếu ta không chấp nhận thực tế này, phải có những chính sách dựa trên cơ sở lý luận, và định hướng cho các trường tư thục hoạt động đúng mục đích phi vụ lợi.
Trong tâm lý, hình như người ta vẫn sợ khái niệm tư nhân và thị trường GD. Sợ, nhưng lại không quản và không cấm nổi. Tức là thị trường này mặc nhiên tồn tại và hình thành ngoài chủ quan cá nhân.
Nhà nước có thể có rất nhiều cách để tác động đến mảng GD tư thục này. Quan trọng nhất là việc ban hành đủ các quy chế luật lệ.
15 năm qua, GD dân lập (nay chuyển sang tư thục) ở VN đã thu hút được lớn lượng sinh viên. Đó cũng chính là một dạng đào tạo theo nhu cầu xã hội. Do đó, nếu không tạo cho loại hình GD này một sân chơi bình đẳng, có luật pháp, chế tài nghiêm minh, công bằng thì nó sẽ phát triển không lành mạnh, trong sạch.
Sự kiểm soát vốn và hoạt động của các trường ĐH tư thục hiện nay chưa rành mạch. Rất khó để hiểu thế nào là vốn. Các công ty ở bên ngoài sau khi cổ phần hóa thì có thể bán cổ phần ra ngoài để huy động thêm vốn, nhưng hiện nay các ĐH tư, quy chế góp vốn chưa rõ ràng, vốn của ai góp thì biết lúc đó, còn lại không biết lúc nào mình đang huy động vốn, như thế nào thì góp vốn.
Vì vậy, các hội đồng cổ đông đặt ra những quy chế rất kì lạ, chẳng hạn: Góp từ thời sáng lập thì như thế nào, ông góp sau thì như thế nào…Tất cả cái đấy chỉ là ngẫu hứng, và là tiêu chí của mỗi hội đồng đặt ra. Tính vụ lợi là rất rõ.
Thiếu kinh nghiệm quản lý
Mặc dù phát triển suốt 15 năm nay, nhưng ngành GD luôn bộc lộ sự thiếu kinh nghiệm quản lý loại hình trường ngoài công lập, trong đó có tư thục. Trường hợp ĐH Đông Đô là một ví dụ.
Đây là một trong những trường ĐH dân lập thành lập sớm, đã từng có thời đình đám. Thế nhưng rồi, do xung đột về quyền lợi, trong hội đồng quản trị mâu thuẫn lớn, dẫn đến mức các thầy kiện cáo nhau.
Bộ Giáo dục và Đào tạo thời điểm đó đã đi ngược lại tất cả mọi quy chế- đưa một ông từ khối ĐH công sang làm hiệu trưởng. Vị này về càng làm cho tình hình rối ren hơn, và Bộ lại…đưa về một người khác.
Nếu ta chấp nhận ĐH tư thục là những thực thể thì phải có quy chế, thông tư. Khi mà không có cái cơ chế giám sát của cả nhà nước lẫn hội đồng trường (hoặc hội đồng quản trị) thì cái việc lộng hành, lạm tiêu của các vị hiệu trưởng rất dễ gặp.
Cần hỗ trợ hơn nữa cho ĐH tư thục
Các trường tư thục hiện đang rơi vào môi trường cạnh tranh rất khốc liệt. Họ nhỏ nhoi về mặt số lượng, quy mô của họ không lớn. Sự hỗ trợ của nhà nước đối với các trường tư thục hiện nay gần như là chưa có. Có chăng chỉ là giảm nhẹ phần nào chi phí để có được mảnh đất.
Các trường công hiện nay đang được nhà nước cực kỳ ưu ái, các trường tư thục không được gì ngoại trừ miễn giảm thuế trong mấy năm đầu. Trong khi họ kiếm chưa đủ tồn tại thì họ vẫn phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp. Trường công đã không đóng thuế lại còn được sự hỗ trợ từ tiền đầu tư cho sinh viên, cán bộ, đến cơ sở vật chất.
Trong vòng 10 năm từ sau khủng hoảng kinh tế thì kinh tế Việt Nam tăng vọt, chi tiêu của nhà nước cho GD cũng tăng vọt. Bên cạnh chi tiêu của nhà nước còn các khoản vốn vay, dự án ĐH 1, dự án ĐH 2.
Tất nhiên, với hơn 300 trường ĐH mà 200 triệu đô cũng không phải là nhiều. Như vậy đặt lên bàn cân thì thấy trường công có rất nhiều mà trường tư không được gì, họ phải "chiến đấu" bằng số tiền hiếm hoi thu được của các sinh viên, thì sự vụ lợi không tránh khỏi. Như vậy phải chăng các trường tư thục cũng cần có sự hỗ trợ nhất định của nhà nước.
- Linh Thủy (ghi)
