Giải Nobel Hòa bình: Như một lời… khiêu chiến

(TuanVietNam) - Xưa nay, nhiều người vẫn nghĩ rằng giải Nobel Hòa bình có đóng góp to lớn vào phong trào đấu tranh vì hòa bình trên toàn thế giới. Tuy nhiên, nhiều ý kiến lại cho rằng hiện nay, giải thưởng này đang đi theo chiều hướng căng thẳng hóa các vụ xung đột.


Bài phân tích của Ronald R. Krebs – Phó Giáo sư Khoa học Chính trị tại Đại học Minnesota, Hoa Kỳ trên tạp chí Foreign Policy.

Nếu Alfred Nobel kỳ vọng rằng giải thưởng về hòa bình mang tên ông sẽ đem lại hòa bình cho thế giới, có lẽ ông sẽ phải thất vọng. Tất nhiên, việc đòi hỏi giải thưởng này phải mang trọng trách đó là một điều không tưởng, song hàng năm, sự lựa chọn của Ủy ban Nobel Na Uy vẫn thường xuyên là đối tượng của nhiều nghiên cứu, tranh cãi và phê phán. Những phê phán chủ yếu lập luận rằng Nobel Hòa bình là giải thưởng mang tính chính trị.

Ủy ban Nobel có tham vọng thay đổi thế giới qua việc trao giải thưởng, và không như các giải Nobel khác, giải Nobel Hòa bình không giới hạn ở việc công nhận và vinh danh các thành tựu đã đạt được. Fracis Sejersted, Chủ tịch Ủy ban Nobel Na Uy trong những năm 1990, từng thừa nhận: “Ủy ban quan tâm tới các hiệu ứng tích cực mà việc trao giải thưởng cho người được lựa chọn có thể đem lại bởi ngài Nobel muốn giải thưởng này có tác động chính trị. Nói đơn giản, trao giải thưởng hòa bình là một hành vi chính trị”.

Do đó, việc đặt câu hỏi về tác động của giải Nobel Hòa bình đối với thế giới là hoàn toàn có cơ sở. Ủy ban Nobel luôn khẳng định rằng tác động của giải tuy chỉ là gián tiếp song vẫn có thể nhận thấy được, đó là: nhấn mạnh tầm quan trọng của một vấn đề, nâng cao vị thế của một cá nhân hoặc tổ chức, thúc đẩy việc giải quyết xung đột một cách hòa bình, thu hút sự chú ý của quốc tế tới các vụ đàn áp và tăng sức ép giải phóng một dân tộc hoặc quốc gia.

Buổi hoà nhạc của giải Nobel 2008 (nguồn: Wikimedia commons)


Tuy nhiên, những tác động này chưa bao giờ được kiểm chứng cẩn thận. Trên thực tế, nếu xem xét kỹ lưỡng các bằng chứng, chúng ta sẽ phát hiện ra rằng giải Nobel Hòa bình tác động rất ít tới những người đoạt giải cũng như lý tưởng và hành động của họ. Đôi khi giải thưởng này cũng thu hút sự quan tâm của thế giới tới những vấn đề bị lãng quên nhưng tiếc thay, nó lại vô tình đặt bàn tay sắt của nhà nước lên những người bất đồng chính kiến, do đó cản trở quá trình giải phóng phi xung đột.

Những hậu quả không mong muốn này đã trở nên phổ biến hơn khi Ủy ban Nobel mở rộng định nghĩa về “hòa bình” kể từ cuộc đình chiến Mỹ - Liên Xô và đặc biệt kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh. Giải Nobel Hòa bình được trao đầu tiên vào năm 1901, 5 năm sau khi Nobel qua đời. Di chúc của Nobel định nghĩa “hòa bình” rất hẹp và chỉ tập trung vào thành tựu của những người được đề cử: "Giải thưởng sẽ được trao cho “người có cống hiến to lớn cho tình hữu nghị giữa các quốc gia, cho việc giải trừ hoặc hạn chế các lực lượng vũ trang và việc tổ chức hay xúc tiến các hội nghị hòa bình”.

Từ năm 1901 tới 1945, 33 trong số 43 giải được trao cho những người có đóng góp cho tình hữu nghị giữa các nước và cho việc giải trừ quân bị. Chỉ duy nhất một lần, vào năm 1935, Ủy ban Nobel để tâm tới tình hình chính trị nội bộ của một nước khi trao giải cho Carl von Ossietzky, một nhà báo chống Đức Quốc xã.

Tuy nhiên, kể từ sau Chiến tranh Thế giới II, Ủy ban Nobel đã chệch xa khỏi sứ mệnh ban đầu của mình. Từ năm 1946 tới 2008, chỉ ¼ số giải thưởng (17 trong số 69) được trao cho những người hoạt động vì hòa bình liên quốc gia và giải trừ quân bị. Trong khi đó, ngày càng có nhiều giải thưởng (16 trong số 48 giải kể từ năm 1971) được trao để khuyến khích các cuộc đấu tranh hòa bình (peace process) đang diễn ra. Đó thường là các cuộc đấu tranh chưa thu được kết quả gì đáng kể hoặc vẫn còn một chặng đường dài đầy chông gai phía trước. Đồng thời, giải này cũng có xu hướng đánh đồng hòa bình với tình trạng hạnh phúc chung chung của con người.

Đáng chú ý hơn là việc giải Nobel Hòa bình ngày càng chú trọng vào tình hình chính trị nội bộ của một quốc gia, đặc biệt là việc các chính quyền coi nhẹ tự do cá nhân và các tổ chức dân chủ. Từ năm 1946 tới 1970, giải thưởng đã hai lần được trao cho các nhà bất đồng chính kiến trong nước. Từ 1971 đến 2008, các nhà bất đồng chính kiến được nhận giải tới 10 lần. Mối dây liên hệ giữa giải Nobel Hòa bình với xung đột liên quốc gia, và thậm chí cả xung đột nội bộ, ngày càng trở nên mỏng manh. Những người từng được nhận giải như nhà lãnh đạo dân chủ Miến Điện Aung San Suu Kyi và nhà hoạt động nhân quyền Iran Shirin Ebadi có thể được ngưỡng mộ vì lòng quả cảm, song giải thưởng của họ không đồng nghĩa với những đóng góp đáng kể vào hòa bình trong nước và quốc tế.

Cuối cùng, Ủy ban Nobel đang ngày càng ngả theo chiều hướng trao giải Nobel hòa bình để vinh danh khát vọng hoặc lý tưởng của một người nào đó, kể cả khi lý tưởng ấy chưa đem lại thành tựu gì đáng kể. Những người ủng hộ cho rằng giải thưởng có thể giúp thu hút sự chú ý của thế giới vào các vấn đề bị nhiều người quên lãng hoặc đóng vai trò tái khởi động các nỗ lực bị kìm hãm. Đây chính là lời khẳng định của cựu Tổng thống Séc Vaclav Havel khi ông đề cử bà Aung San Suu Kyi.

Với lý lẽ đó, phải chăng các giải thưởng “khát vọng” kiểu này sẽ giúp chúng ta tìm ra bằng chứng về hiệu quả của giải Nobel Hòa bình? Nếu giải Nobel Hòa bình được trao cho những cá nhân hoặc tổ chức vì những thành tựu đã đạt được thì hiệu ứng của giải sẽ rất khó nhận thấy bởi khi đó, người nhận giải đã có vị thế vững chãi và không có lẽ gì để khẳng định những thành công sau này của họ có được là nhờ giải thưởng.

Tuy nhiên, 27 giải thưởng “khát vọng” được trao kể từ năm 1971 có hiệu quả ít hơn rất nhiều so với kỳ vọng của những người ủng hộ. Nhiều cuộc xung đột đã xuất hiện trên các phương tiện truyền thông với tần suất cao trước khi được Ủy ban Nobel nêu danh. Không thể nói rằng việc giới truyền thông đưa tin về sự chuyển đổi của Nam Phi từ chế độ Apartheid (1993), cuộc xung đột Israel – Palestine (1994) hay xung đột ở Bắc Ireland (1998) là nhờ tác động to lớn của giải Nobel Hòa bình.

Bà Aung San Suu Kyi nhận giải
Nobel Hoà bình 1991,
khién cả thế giới chú ý tới hình hình
ở Miến Điện (nguồn: salem-news)

Có một số trường hợp mà giải Nobel Hòa bình đã thành công trong việc thu hút sự chú ý của giới truyền thông. Ví dụ, việc bà Aung San Suu Kyi được trao giải vào năm 1991 đã khiến cả thế giới chú ý tới tình hình ở Miến Điện.

Nhưng một cuộc khảo sát các tít báo trong cơ sở dữ liệu “các tờ báo lớn trên thế giới” của công ty LexisNexis lại cho thấy giải Nobel Hòa bình chỉ có tác động ngắn hạn tới giới truyền thông.

Điều này hoàn toàn đúng với trường hợp Đạt Lai Lạt Ma và Tây Tạng (1989), Rigoberta Menchú và cuộc nội chiến Guatemala (1992), Shirin Ebadi và cuộc cải tổ ở Iran (2003) cùng nhiều trường hợp khác. Mặc dù giải thưởng này có thể củng cố vị thế của các cá nhân chưa được nhiều người biết đến như Ebadi hay Wangari Maathai, tác động của nó nhìn chung vẫn hết sức mờ nhạt.

Nếu giải Nobel Hòa bình chỉ thiếu hiệu quả trong việc thu hút sự chú ý của quốc tế tới người nhận giải, thì chúng ta có thể bỏ qua nó như một giấc mơ hão huyền vô hại. Tuy nhiên, giải thưởng này lại tác động tiêu cực tới các phong trào hòa bình mà nó vinh danh.

Điều này không phải lúc nào cũng đúng. Trong tất cả các giải thưởng “khát vọng” được trao từ năm 1971 tới 2008 có 5 giải vinh danh các đóng góp cho hòa bình và giải trừ quân bị, 9 giải nhằm mục tiêu thúc đẩy tiến trình hòa giải các cuộc xung đột nội bộ và xung đột giữa các quốc gia, 9 giải vinh danh các hoạt động vì nhân quyền và dân chủ. Trong hai nhóm đầu tiên, hậu quả tiêu cực hầu như không xảy ra.

Nhóm thứ ba là nhóm được quan tâm nhiều hơn và cũng gặp nhiều rắc rối hơn. Thông qua việc trao giải, Ủy ban Nobel nỗ lực nhấn mạnh các vụ đàn áp chính trị và vi phạm nhân quyền với hy vọng rằng ánh sáng truyền thông sẽ buộc các chính phủ  phải xử sự đúng đắn hơn và sẵn sàng chấp nhận những thay đổi đau đớn để tiến tới dân chủ. Hy vọng này của Ủy ban Nobel được đặt trên giả định là: Các chế độ từ Nam Phi thời Apartheid cho tới Miến Điện dưới chế độ quân sự đều muốn thế giới đánh giá tốt về họ.

Thực tế là, trong khi những người đoạt giải thường được trả tự do, các chính quyền lại khống chế mạnh mẽ hơn những người bất đồng chính kiến khác để làm họ nhụt chí. Khi Đạt Lai Lạt Ma được vinh danh vào năm 1989, Trung Quốc đã phản đối công khai việc ông được trao giải, đồng thời thực hiện một vụ trấn áp Tây Tạng dữ dội. Các hình thức phản kháng bất bạo động như thắp hương hay ném bột mỳ vào không trung đều bị ngăn cấm. Tương tự, chính quyền Miến Điện cũng coi việc trao giải Nobel cho bà Aung San Suu Kyi là hành động chèn ép và đe dọa Miến Điện của cộng đồng quốc tế. Để đáp trả, nhà cầm quyền vây bắt các thủ lĩnh sinh viên, đóng cửa các trường đại học, sách nhiễu những người đối lập và phát động cuộc tấn công vũ trang nhằm vào những kẻ nổi loạn.

Hơn nữa, vì nghĩ rằng giải Nobel và cộng đồng quốc tế có thể bảo vệ được mình, các nhà hoạt động tăng cường đòi hỏi và đẩy mạnh các hoạt động phản kháng. Điều này khiến chính phủ đàn áp họ mạnh mẽ hơn, đặc biệt là khi Ủy ban Nobel đạt được các mục tiêu của mình như khuyến khích, động viên các nhà dân chủ, tác động tới truyền thông toàn cầu và gây sức ép với chế độ chuyên chế.

Trớ trêu thay, kể cả khi Ủy ban Nobel có thực hiện được mục tiêu của mình hay không, những phản ứng phụ đó vẫn xuất hiện bởi nhà cầm quyền luôn luôn “nể sợ” giải thưởng này. Năm 1973, khi nhà vật lý học, nhà hoạt động nhân quyền Andrei Sakharov được đề cử, chính quyền Xô Viết đã yêu cầu KGB ngăn cản không cho ông được vinh danh, đồng thời có nhiều hành động đàn áp và sách nhiễu. Tương tự, từ khi bà Aung San Suu Kyi nhận giải, chính quyền Miến Điện không còn “phớt lờ” bà nữa. Những người ủng hộ bà Aung San Suu Kyi, vì không có được danh tiếng và vị thế như bà, còn phải chịu nhiều thiệt thòi lớn hơn.

Tóm lại, trong những trường hợp này, ý định tốt của Ủy ban Nobel đã gây ra sóng gió. Giải Nobel Hòa bình đã vô tình đặt những nhà cải cách và chính quyền vào thế đối đầu nảy lửa: một bên yếu ớt nhưng tràn trề khí thế, một bên giống như thú dữ bị thương.

Nếu được trao cho những thành tựu cũ, giải Nobel Hòa bình rất đáng được hoan nghênh – không phải vì nó có thể thay đổi thế giới, mà vì nó khẳng định và tôn vinh những lý tưởng tự do cao đẹp. Nhưng với xu hướng hiện nay, khi giải thưởng này thường được trao với mục đích thúc đẩy cải cách chính trị nội bộ, những người đoạt giải nên đề phòng.

• Thanh Trà (theo Foreign Policy)

* Xin bạn vui lòng gõ tiếng việt có dấu