 |
|
Tượng "Người suy tưởng" của nhà điêu khắc Pháp Auguste Rodin |
Định nghĩa thế nào là trí thức giới trí thức cho đến nay vẫn chưa có cách hiểu chung. Theo Karl Marx, trí thức là những người có tri thức dồi dào và có chính kiến trước những vấn đề chính trị xã hội (Wikipedia).
Cũng theo Từ điển Bách khoa mở này, đã từ lâu trí thức ở Việt Nam được hiểu đơn giản hơn là những người lao động trí óc (để phân biệt với lao động chân tay) hay phức tạp hơn một chút là những người có trình độ cao đẳng, đại học trở lên.
Đề cập tới chủ đề này, trong các phát biểu và tranh luận gần đây ở nước ta, có thể thấy rằng cách hiểu về trí thức và những người trí thức vẫn còn nhiều khác biệt.
Có quan điểm cho rằng trong thời kỳ hội nhập, người trí thức phải sáng tạo ra những sản phẩm trí tuệ có giá trị thực sự, đem lại lợi ích cho xã hội, đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế (Báo VietnamNet, 20.3.08)[1].
Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân lại cho rằng “Giới trí thức không chỉ cần có bằng cấp mà phải có phương pháp tự học, tự nghiên cứu. Trí thức cũng cần có các điều kiện làm việc tốt như được tiếp cận thông tin mới, trao đổi với người cùng giới, được giao nhiệm vụ phù hợp và kết quả công việc được đánh giá tương xứng” (Pháp Luật TPHCM, 18.3.08)[2].
Giáo sư Chu Hảo, trong một bài phỏng vấn với Báo Pháp Luật HCM (26.3.08)[3] đặt câu hỏi: Ai là trí thức? Có phải tất cả những người lao động trí óc, có trình độ cao đẳng, đại học trở lên đều là trí thức không? Và theo cách hiểu mà ông cho là hợp lý thì trí thức là tầng lớp lao động trí óc trong các lĩnh vực khoa học công nghệ và văn học.
Và mặc dù cũng chưa có câu trả lời cuối cùng song có lẽ bài viết gần đây của nhà sử học Dương Trung Quốc đăng trên Tạp chí Tia sáng là bài viết sâu sắc nhất về chủ đề này[4]
Nhìn rộng ra, các cuộc tranh luận về trí thức và giới trí thức ở các nước cũng rất sôi động. Quan điểm của một tờ báo mạng ở Đức cho rằng: giới trí thức – dứt khoát bao gồm các chính trị gia – là những người phản biện tích cực và là chủ thể của các biến chuyển xã hội.
Tạp chí Toàn cảnh (Prospect Magazine) của Mỹ gần đây có một bài viết gây được sự chú ý về Giới trí thức mới ở Trung Quốc[5] cũng đề cập tới giới trí thức là những nhà tư tưởng, những nhà nghiên cứu, những nhà tư vấn chính sách, các nhà hoạt động xã hội, triết gia, các nhà tư tưởng, chính trị gia, kinh tế gia, học giả, hay cả những sinh viên từng du học nước ngoài (được hấp thụ tri thức từ nền giáo dục phương Tây) cũng được liệt kê vào giới trí thức.
Ngoài ra, các cuộc tranh luận ở các nơi cũng đề cập tới việc liệu những nhà quản lý doanh nghiệp, đặc biệt là những giám đốc, Tổng giám đốc (CEOs) của các tập đoàn lớn, những người có tri thức cao, góp phần tạo ra một lượng của cải lớn trên thế giới, có được xem là trí thức?
Phần Lan: Điều kiện cần của trí thức và giới trí thức là nền học vấn của quốc gia
 |
|
Pekka Himanen, một nhà triết học người Phần Lan (Ảnh nguồn: Washington Post) |
Đối với Phần Lan giới trí thức được hiểu là những người có văn hóa hoặc nhóm người có văn hóa, những người này là những nhà tư tưởng thực tế và được xem là báu vật quốc gia.
Giới trí thức dùng để chỉ cộng đồng những người có ảnh hưởng tới toàn bộ nền khoa học và văn hóa của xã hội. Các thành viên trong giới trí thức là người định ra bản chất của thời kỳ đó và là những người đứng ra tranh luận công khai các vấn đề.
Theo quan điểm này thì ở Phần Lan đã hình thành giới trí thức từ những năm 1800, đó là thời điểm xuất hiện chính trị công khai.
Thông thường, nói tới giới trí thức là nói tới giới văn minh và giới những người có văn hóa cao. Những ấn phẩm xuất bản được sự quan tâm của đa phần độc giả chưa hẳn phản ảnh quan điểm của giới trí thức.
Cho dù xét trên tiêu chí nào thì Phần Lan cũng có giới trí thức mạnh. Trên thực tế, điều kiện cần của trí thức và độ ngũ trí thức chính là nền học vấn của một quốc gia. Nếu nhìn từ tiêu chí này, ta có thể hình dung được rõ tính ưu việt của Phần Lan so với các quốc gia khác.
Theo thống kê của Phần Lan, 27% dân số Phần Lan có bằng đại học trở lên[6]. 99,3% học sinh cấp ba thành thạo ít nhất 3 ngoại ngôn ngữ là tiếng Phần Lan, tiếng Thụy Điển và tiếng Anh[7].
Tính tới cuối năm 2006, 64% dân số Phần Lan trên 15 tuổi, tức khoảng 2.806.000 trên tổng số dân trên 15 tuổi là 4.375.774 có bằng trung học trở lên. Trong số đó, có 21.280 tiến sĩ, chiếm 0.5%[8].
Nếu nhìn sâu vào một trường Đại học, như ĐH Helsinki, ta cũng có thể phần nào hình dung mức độ sản sinh tri thức mạnh mẽ từ nền giáo dục của nước này. ĐH Helsinki là một trong những ĐH hàng đầu của Phần Lan, xếp hạng thứ 4 trong số các trường ĐH Châu Âu, với 11 khoa, 18 viện nghiên cứu độc lập.
Theo Báo cáo năm 2006, tổng số sinh viên theo học lấy bằng là 38.000 sinh viên nhưng còn có tới 51.000 sinh viên theo học các khóa thường xuyên không lấy bằng cấp (continuing education).
Hàng năm chỉ có 22% số lượng nộp đơn được nhận vào trường. Trường có 22 chi nhánh (campus) ở khắp đất nước. Số người làm việc tại ĐH Helsinki là 7.707 người trong đó giới giảng dạy và nghiên cứu là 3.784.
Kinh phí hoạt động hàng năm là 517 triệu euro và tổng số bài viết khoa học được xuất bản hàng năm là 5830 trong đó 1904 bài báo được xuất bản tại Phần Lan và 3926 bài báo được xuất bản trên các ấn phẩm của thế giới.
Nếu tính số bằng phát minh sáng chế theo đầu người, Phần Lan luôn đứng trong tốp đầu thế giới[9].
Ngoài ra, nhờ vào hệ thống giáo dục toàn diện ưu việt của Phần Lan, học sinh Phần Lan ba lần liên tiếp đứng đầu điều tra PISA[10] của 57 quốc gia phát triển toàn thế giới và mô hình này hiện đang trở thành hình mẫu để các quốc gia trên thế giới học tập.
Xét về khía cạnh phát triển kinh tế, nhờ vào tri thức và giới trí thức hùng hậu, sau gần 50 năm phát triển, Phần Lan được xem là một trong những nước phát triển nhất châu Âu.
Kể từ năm 2001, Phần Lan vượt Mỹ trở thành nước cạnh tranh nhất về kinh tế, được Diễn đàn Kinh tế Thế giới đánh giá là nước có “văn hóa sáng tạo”.
Các chỉ số so sánh với OECD về toàn cầu hóa, môi trường, tự do kinh tế, cạnh tranh, thành tựu công nghệ, giáo dục, tự do báo chí, tham nhũng, chỉ số phát triển con người, chỉ số cạnh tranh, tăng trưởng hầu hết đều dẫn đầu thế giới hoặc đứng ở trong tốp 10 thế giới[11].
Dân số trung bình khoảng 5 triệu trong đó lực lượng lao động trung bình gần 2.7 triệu người nhưng trong một thập kỷ qua GDP luôn ở mức trung bình 150 tỷ euro và đạt xấp xỉ 170 tỷ năm 2006; bình quân đầu người 38.000 euro/năm.
Tất cả những thành tựu trên đều xuất phát từ nền giáo dục chất lượng cao, luôn đứng trong tốp đầu các nước tạo ra các sản phẩm tri thức mới, trong đó Nokia là một ví dụ điển hình. Dù dân số ít nhưng Phần Lan có tới 228.000 công ty vừa và nhỏ và cũng có tới 16 công ty trên tổng số 2000 công ty lớn nhất thế giới[12].
Điều kiện cho người trí thức là môi trường tự do và không thành "đội ngũ"
 |
|
Điều kiện tối thiểu cho trí thức là một môi trường tự do (Ảnh minh hoạ nguồn: gabrielbcn.files.wordpress.com) |
Do nhận thức cần phải xây dựng một xã hội và nền kinh tế dựa trên tri thức để tạo lợi thế cạnh tranh với thế giới và cũng do đặc thù của hệ thống chính trị và quan niệm xã hội tự do nên ở Phần Lan không đặt vấn đề “xây dựng đội ngũ trí thức”.
Phần Lan tin rằng điều kiện tối thiểu cho trí thức là một môi trường tự do và không nên đưa trí thức thành vào thành một “đội ngũ”. Cũng giống như các nước phương Tây khác, ở Phần Lan báo chí là tự do, đại học và các viện nghiên cứu là hoàn toàn độc lập, chính phủ không đóng vai trò quản lý mà chỉ đóng vai trò giám sát, nền kinh tế hoạt động theo quy luật thị trường và công chức hoàn toàn mang tính phục vụ.
Phản biện xã hội được khuyến khích và Phần Lan là một trong số ít nước cho phép truyền hình được làm phim hài chiếu hàng tuần về các nhà lãnh đạo đương thời.
Phần Lan tin rằng xây dựng được giới trí thức mạnh cần phải bắt nguồn từ giáo dục, đặc biệt là giáo dục phổ thông. Trẻ em thất học từ nhỏ không những sẽ là một gánh nặng cho xã hội mà còn không thể và không bao giờ trở thành một trí thức.
Do đặc thù dân số ít, thời tiết khắc nghiệt, nghèo tài nguyên và vị trí địa lý bất lợi nên Phần Lan chú trọng phát triển con người trở thành một nguồn tài nguyên.
Phần Lan quan niệm rằng một con người được sinh ra là tài sản của quốc gia và cần phải được chăm sóc tốt nhất và đây chính là lực lượng lao động tạo nên tri thức và của cải cho xã hội để thay thế lớp người không còn sức lao động sau này.
Chính vì thế xây dựng phúc lợi xã hội cơ bản cho người dân về giáo dục, y tế, nhà ở… luôn là ưu tiên hàng đầu và trên thực tế đã trở thành những dịch vụ công tốt nhất.
Triết lý cơ bản của nền giáo dục của Phần Lan là bình đẳng và cơ hội đồng đều với chất lượng cao nhất. Học tập từ mầm non cho tới bậc tiến sỹ là hoàn toàn miễn phí, kể cả sách vở và ăn uống tại trường. Giáo dục, đặc biệt là giáo dục phổ thông là cưỡng bách.
Bên cạnh đó Phần Lan tin rằng nhân tố quan trọng nhất để giáo dục tạo ra được tri thức là giáo viên và văn hóa nhà giáo và do đó Phần Lan chú trọng xây dựng một giới giáo viên có tâm huyết và được đào tạo bài bản, nghề giáo là nghề được coi trọng bậc nhất trong xã hội.
Cách đây 30 năm, tại Phần Lan không còn tồn tại Trường Sư phạm. Việc đào tạo giáo viên đã được chuyển hẳn sang đào tạo tại các trường Đại học.
Trên thực tế, tiêu chuẩn mà Phần Lan đang áp dụng cho giáo viên: dạy mầm non tối thiểu phải có bằng Cử nhân, dạy tiểu học, trung học tối thiểu phải có bằng Thạc Sỹ và dạy sinh viên phải là Tiến sĩ, giáo sư, là một trong những tiêu chuẩn hầu như chưa có quốc gia nào theo kịp.
Một điểm ưu việt khác của giáo đại học của Phần Lan là sự phân biệt rõ giữa Đại học thực hành (Polytechnique) là nơi đào tạo ra các kỹ sư, các nhà quản lý phục vụ cho thế giới công việc (professional world) và cung ứng nhân lực cho nền kinh tế hiện tại và Đại học hàn lâm (University) là nơi kết hợp giữa nghiên cứu và đào tạo kiến thức hàn lâm cho cử nhân, thạc sỹ và tiến sỹ và đòi hỏi sinh viên phải tạo ra những kiến thức mới trên cơ sở nghiên cứu và sáng tạo (thay vì học những kỹ năng làm việc ở trường Đại học thực hành).
Chính vì một nền giáo dục quyết liệt và ưu việt như vậy nên chất lượng giáo dục và nguồn tri thức do giáo dục tạo ra rất dồi dào. Học sinh trung học ở Phần Lan, ngoài việc kiến thức liên tiếp đứng đầu trong thế giới các nước phát triển còn biết thành thạo ít nhất từ 3-5 ngoại ngữ.
Các trường Đại học và các Viện nghiên cứu luôn nằm trong tốp 5 nước đứng đầu sản sinh ra nhiều bằng sáng chế và phát minh mới của thế giới nếu tính bình quân đầu người. Kiến thức của sinh viên ra trường cập nhật với tình hình thế giới và thị trường và hiếm có quốc gia nào có tỷ lệ 56% sinh viên có việc làm khi còn đang học tập và 90% sinh viên tốt nghiệp sau một năm có thể tìm được việc làm phù hợp với ngành học của mình như ở Phần Lan.
Nguyễn Thành Huy
-------------------
Ghi chú:
[1] http://vietnamnet.vn/chinhtri/2008/03/774264/
[2] http://www.phapluattp.vn/news/chinh-tri/view.aspx?news_id=211856
[3] http://www.phapluattp.vn/news/can-canh/view.aspx?news_id=212519
[4] http://www.tiasang.com.vn/news?id=2590
[5] http://www.prospect-magazine.co.uk/printarticle.php?id=10078
[6] http://www.stat.fi/til/tthv/2006/tthv_2006_2007-12-19_tie_001_en.html
[7] http://www.stat.fi/til/ava/2007/ava_2007_2007-12-14_tie_001_en.html
[8] http://www.stat.fi/til/vkour/2006/vkour_2006_2007-12-05_tie_001_en.html
[9] Helsinki University, Annual Review 2006
[10] http://www.pisa2006.helsinki.fi/
[11] http://en.wikipedia.org/wiki/International_rankings_of_Finland
[12] Forbes 29.3.07