Bài viết nhân 49 ngày ông "Sáu Dân trong lòng Dân"....
Như một nén tâm hương...
 |
|
Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt (Ảnh nguồn: Reuteurs) |
Khí trời hít thở hàng ngày quen thuộc đến nỗi người ta không hề nghĩ đến nó, chỉ lúc bị ngạt vì thiếu nó mới biết được rằng người ta không thể sống được nếu không có không khí để thở.
Có những con người mà khi hàng ngày gặp gỡ trò chuyện, tuy đã cảm được cái lớn trong nhân cách và sức thuyết phục của họ, nhưng phải đến khi buộc phải rời xa họ mãi mãi mới thấy được sự hụt hẫng về khoảng trống không thể bù đắp do họ để lại, và rồi bỗng vỡ ra một điều: ta vẫn chưa hiểu hết, hiểu sâu về họ như ta vẫn tưởng, vẫn cần phải tiếp tục phát hiện. Ông Sáu Dân là một người như vậy.
Khi ông nằm xuống rồi, người ta mới càng thấy được cái tầm cao lừng lững của ông. Càng suy ngẫm, lại càng ngạc nhiên về cái mà ông để lại cho cuộc đời này.
Càng ngạc nhiên về “hiện tượng Sáu Dân” trong đời sống đất nước hơn nửa thế kỷ qua, từ những năm 40 của thế kỷ XX, cho đến những ngày tháng 6 năm 2008, càng đau nỗi đau thương tiếc! Vì cuộc đời này cần ông biết bao, khác nào như một môi trường bị ô nhiễm cần không khí trong lành để xua bớt những ngột ngạt.
Hôm nay, 27 tháng bảy năm Mậu Tý (29/7/2008) đã là 49 ngày ông ra đi.
“Thế là đã bốn chín ngày
Dòng đời vẫn chảy vơi đầy người ơi” (Việt Phương)
Trong dòng chảy vơi đầy ầy, xin được thắp lên một nén tâm hương tưởng nhớ ông.
"Bắt đầu, rốt cuộc đều thiện, đạo người xong xuôi vậy”
 |
|
"Bắt đầu, rốt cuộc đều thiện, đạo người xong xuôi vậy” (Ảnh: TTO) |
“Thất thất lai tuần” để tưởng niệm người đã khuất có khởi nguồn từ lời dạy của Khổng Tử, song nghi thức này đã trở thành một tập quán lâu đời trong sinh hoạt tinh thần của xã hội ta, thể hiện đạo lý truyền thống của người Việt Nam ta.
Trong “Văn hóa Sử cương” (1938), Đào Duy Anh giải thích: “cứ bảy ngày làm một tuần chay, làm đủ bảy tuần, đến ngày thứ 49 thì làm lễ chung tất” (tr.218).
“Việt Nam phong tục” (1915) của Phan Kế Bính thì gọi ngày đó là “chung thất”. Sách viết: “Bốn mươi chín ngày gọi là tuần chung thất…có nhà đem vào chùa làm chay, nhờ nhà sư tụng kinh để cầu cho vong hồn được siêu thăng tịnh độ” (tr.36).
Trong “Văn hóa học” (1997), Đoàn Văn Chúc dẫn sách “Lễ Ký” tổng luận về chuyện tang lễ: “Sinh là bắt đầu của con người, chết là rốt cuộc của con người. Bắt đầu, rốt cuộc đều thiện, đạo người xong xuôi vậy”.
Ý tứ chữ nghĩa có thể không hoàn toàn như nhau, nhưng tựu chung thì đều thể hiện quan điểm của Khổng tử về tang lễ : “đối với người chết nếu chỉ lấy ý chí mà đối xử thì sẽ nói chết là hết tất cả, như vậy sẽ chẳng cần đến nghi lễ nữa, thế là bất nhân…Hậu hĩ với sự sống, bạc bẽo với sự chết, thế là kính cái có biết, mà khinh cái không biết vậy” (tr.236,237).
Tưởng niệm nhân 49 ngày một con người “bắt đầu, rốt cuộc đều thiện, đạo người xong xuôi” không chỉ là tuân thủ một nếp sống văn hóa quen thuộc, mà còn là biểu tỏ sự thành kính và biết ơn đối với người đã cống hiến toàn bộ cuộc đời mình cho sự nghiệp của dân tộc, của nhân dân, cho Đảng của Hồ Chí Minh.
Đúng vào dịp này, cuốn sách “Ông Sáu Dân trong lòng dân” do Viện Nghiên cứu & Phát triển (IDS) và Nhà Xuất bản Tri thức ấn hành nói lên sâu sắc điều đó. Và không phải chỉ một cuốn sách đó.
Cuốn sách “Dấu ấn Võ Văn Kiệt” do Tạp chí “Xưa & Nay” và NXB Văn hóa Sài Gòn đã ra mắt đúng vào dịp này “để bày tỏ lòng tri ân của mình đối với một con người đã tận tâm góp phần cùng cả dân tộc làm nên lịch sử đồng thời cũng góp phần gìn giữ những giá trị lịch sử trong đó có sự công bằng trong đánh giá những vấn đề lịch sử của dân tộc… ” (Lời giới thiệu).
Cùng với những ấn phẩm ghi đậm tình cảm của đồng chí, đồng đội và đông đảo các tầng lớp nhân dân đối với người đã 49 ngày nằm xuống, còn bao nhiêu bài báo, còn nhiều hình thức thể hiện sinh động và chân thành tình cảm và nhận thức của công luận đối với Võ Văn Kiệt, người khi đi vào cõi vĩnh hằng đã để lại một dấu ấn lịch sử rất đậm nét.
"Khi sống được mọi người tôn kính, khi chết được mọi người thương xót"
Con người ấy đúng là “Kỳ sinh dã vinh, kỳ tử dã ai” như lời bàn của cổ nhân trong “Luận ngữ”: “gây dựng cho dân, dân sẽ tự lập, dắt dẫn dân, dân sẽ biết đường mà đi, vỗ yên dân, dân sẽ quy phụ, cổ võ dân, dân sẽ hiệp lực với nhau. Khi sống được mọi người tôn kính, khi chết được mọi người thương xót” (sở vị lập chi tư lập, đạo chi tư hành, tuy chi tư lai, động chi tư hòa. Kỳ sinh dã vinh, kỳ tử dã ai… thiên Tử Trương ).
Càng suy ngẫm về cái lẽ khôn cùng của tạo hóa, về cái quy luật nghiệt ngã không ai thoát khỏi để cố nguôi ngoai bớt sự trống trải về khoảng trống ông để lại, nhưng càng nghĩ, càng cảm thấy nỗi trống trải quá lớn về sự ra đi đột ngột của ông không sao khỏa lấp được khi mà sự nghiệp “sở vị lập chi tư lập” (gây dựng cho dân, dân sẽ tự lập) đang cần đến ông hơn bao giờ hết!
Sự trống trải mà như Bảy Nhị, ông nông dân nguyên là chủ tịch tỉnh An Giang, xót xa day dứt : “trống trải đến mức có tạc tượng đồng, đặt tên những nẻo đường ông từng đi qua cũng không lấp nổi khoảng trống ấy” (Doanh Nhân Sài Gòn 23.6.2008).
Sáu Dân quả là người “khi sống được mọi người tôn kính, khi chết được mọi người thương xót”. Ngược dòng thời gian, dừng lại ở những cột mốc đáng lưu ý, mới dần dần ngộ ra được sự nổi bật của “hiện tượng Sáu Dân”.
Đó là người đã nhiều lần dám bứt khỏi cái cơ chế nghiệt ngã và ấu trĩ của một thời để vượt lên chính mình, quyết không chịu để cho “cái mũ kim cô” giáo điều nô lệ sách vở xa rời cuộc sống thít chặt đầu óc, người không cam chịu cái mô hình bị áp đặt từ bên ngoài làm khô héo và lạc điệu nhịp đập sinh động của đất nước, người gắn bó máu thịt với dân để luôn tìm thấy sức mạnh của mình trong nguồn mạch bất tận của nhân dân mình.
Con người ấy đã sống cuộc sống tuyệt đẹp vói 86 tuổi đời, gần 70 tuổi Đảng trong lòng dân.
Sáu Dân với "DÂN"
“Dân” đối với Sáu Dân thật là gần gũi, sống động và cũng thật là rộng mở khoáng đạt.
Hiếu với Dân của Sáu Dân là sự thể hiện thật cụ thể, thật sinh động lòng Trung với Nước của người cộng sản Việt Nam chân chính, cái làm nên nét độc đáo về Đảng của Hồ Chí Minh, Đảng của cả dân tộc Việt Nam.
Và Sáu Dân là một minh chứng sống động mà càng có thời gian lắng lại suy ngẫm, càng thấy “hiện tượng Sáu Dân” có sức thuyết phục lớn trong sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc, nguồn động lực quyết định của đất nước khi mà sự nghiệp phát triển và hội nhập đi vào chiều sâu đòi hỏi phải huy động đến mức cao nhất tiềm lực của người Việt Nam, đặc biệt là tiềm lực chất xám.
“Đôi mắt xanh” cùng với tấm lòng của Sáu Dân từng biết phát hiện ra chất xám ấy.
Xin chỉ gợi ra một dẫn chứng nổi bật trong trường hợp đặc biệt khi ông nhìn thấu những tiềm năng và những uẩn khúc trong một số trí thức tài năng đã sống trong chế độ cũ để rồi tìm cách bảo vệ, giúp đỡ họ.
Thậm chí vào những ngày cơ cực, ông đã nói với một vị trí thức vượt biên bị bắt khi ông vào trại thăm ông ta : “khi nào không ở lại được nữa, hãy nói với tôi, đừng đi như thế nguy hiểm lắm!”.
Hàng chục năm sau, khi nhớ lại chuyện này, ông vẫn không dấu nổi sự dằng xé “Đau lắm, để họ ra đi là đau lắm! Nhưng mình biết, cái cách của mình lúc ấy không thể nào giữ được họ” (Sài Gòn Tiếp thị ngày 13.6.2008).
Đó là nỗi đau nhân thế mà phải có một trái tim nhân hậu biết đập theo sức cuộn chảy của nguồn mạch dân tộc mới có được. Đúng, nguồn mạch dân tộc, chính vì ông Sáu đắm mình được trong nguồn mạch đó nên mới có được trái tim ấy, đôi mắt ấy, bản lĩnh ấy.
Những ứng xử của ông vào buổi ấy dung dị và tự nhiên bật ra từ những dồn nén và sâu lắng bằng sự trải nghiệm của chính thân phận mình, vợ và ba người con ông đã hy sinh trong chiến tranh, sự trải nghiệm liên tục và khắc nghiệt suốt mấy thập kỷ gian khổ nhất của cuộc sống đất nước trong ngọn lửa hừng hực cuộc chiến đấu một mất một còn. Chính cái đó tôi luyện nên Sáu Dân.
Có cảm được nỗi đau nhân thế mới có được cử chỉ cảm động, hồn nhiên song thật quyết liệt với bản lĩnh của một người thủy chung với đồng chí, đồng đội, trước khi dự lễ đóng cầu dao điện của công trình thế kỷ, ông vào nhà tù thăm và gắn huy chương kỷ niệm đường dây điện 500KV Băc-Nam cho người có công đầu song lại đang phải thụ án!
Đó không chỉ là một cử chỉ động viên hay tri ân người có công đang phải gánh chịu số phận éo le, đó là bản lĩnh của một người có trách nhiệm với cuộc đời, là xử sự tự nhiên của một nhân cách lớn, là hành vi thấm đượm tính nhân văn Sáu Dân.
Còn có bao nhiêu chuyện tương tự như vậy trong ứng xử của ông. Chuyện ông hối hả đến thăm một hậu duệ của vua Duy Tân đang sống cơ cực và thầm lặng trong một con hẽm ở thành phố Cần Thơ cũng dung dị như việc ông vội vã đến viếng một người nữ đồng chí 60 năm tuổi Đảng vừa qua đời trong cảnh sống khó khăn mà không hề nhận được sự quan tâm săn sóc của cấp ủy và chính quyền địa phương, để rồi khi về, ông cứ day dứt vì sao mãi đến lúc ấy ông mới hay biết.
Những hối hả, những vội vã ấy xuất phát từ trái tim nhân hậu thủy chung của ông, đáp ứng một đòi hỏi tình cảm bên trong ông chứ không phải chỉ là một ứng xử “chính trị” đơn thuần, nhưng chính tình cảm ấy lại là biểu tỏ sinh động một bản lĩnh chính trị nhuần nhị được hun đúc từ những trải nghiệm của một người cộng sản chân chính đã cống hiến sinh mệnh của mình cho sự nghiệp cách mạng, từng được nhân dân nuôi nấng, đùm bọc, chở che.
Phải sống hết mình trong lòng dân, vui niềm vui của dân , đau nỗi đau của dân mới có những “ứng xử chính trị” như của ông Sáu Dân.
Với ông, họ, những người trí thức với những thân phận nghiệt ngã cũng là “Dân” như những người nông dân đồng bằng sông Cửu Long thân thiết của ông mà ông từng lội bùn đi thăm họ.
Những nông dân, nói như Bảy Nhị: “dù còn đa đoan lắm nổi nhưng được rạng mắt nở mày nhờ ơn Đổi Mới mà Võ Văn Kiệt là một trong những người có công đầu…Ngay khi con kênh T5 thoát lũ ra biển Tây vừa mới hoàn thành, dân đã gọi đó là “Kênh ông Kiệt” và nay đã thành danh. Dân là vậy đó”.
Và cũng là “dân”, những người thợ dựng cột kéo dây tít tận trên đỉnh núi cao của công trình đường dây 500 KV Bắc-Nam đã quây quần quanh chú Sáu vừa leo lên thăm.
Hoặc cũng là “dân”, hàng trăm nhân viên của những khách sạn lớn vừa được tiếp quản sau 1975 không bị mất việc “nhờ ý kiến quyết định của chú Sáu: kết hợp giữa hai lực lượng, bảo đảm duy trì tốt cơ sở vật chất và hoạt động của các hệ thống khách sạn”! (Dấu ấn Võ Văn Kiệt, tr.62).
Nhờ tính chất “Dân” ấy của Sáu Dân, ông trở thành một biểu tượng nổi bật và sống động về hình ảnh một người cộng sản chân chính thấm đượm tính nhân văn, một lãnh tụ quần chúng có khả năng thu hút và thuyết phục nhân dân đi theo mình.
Một Sáu Dân với những nét tính cách nổi trội không lẫn với bất kỳ ai. Điều ấy giải thích vì sao, ngay cả trong trái tim hay khối óc của những người từng ở bên kia chiến tuyến và nay cũng đang còn nhiều khác biệt với lý tưởng và mục tiêu của ông, vẫn có chỗ cho hình ảnh, bóng dáng Võ Văn Kiệt. Với nhiều người khác, họ tìm ở ông một nhịp cầu để đến gần nhau, vượt qua những tị hiềm, định kiến.
Cũng từ tính chất “dân” ấy, nhờ sự nỗ lực học hỏi cộng thêm một “năng lực trời phú”, người nông dân chính cống ấy đã trở thành người trí thức với hàm nghĩa đầy đủ và tốt đẹp của danh hiệu “người trí thức”.
Nếu hiểu phẩm tính của người trí thức theo cách diễn đạt của người xưa trong khái niệm “người quân tử”, gạt bỏ đi những hạn chế của lịch sử, sẽ thấy nổi bật một nguyên lý vĩnh hằng: “Kinh Thi có câu: người quân tử yêu thích điều dân yêu thích. Người quân tử ghét điều dân ghét”.
 |
|
Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt trong thư phòng |
Kinh Thi còn có câu: “Khi nhà Ân chưa để mất lòng dân thì còn xứng đáng để thụ mệnh thiên tử. Nên soi vào tấm gương diệt vong của nhà Ân để biết rằng giữ được thiên hạ không phải là dễ….nếu để kẻ tiểu nhân tham gia vào việc quản lý quốc gia, nhất định dẫn đến thiên tai nhân họa, dù cho về sau dùng lại người hiền đức cũng không cứu vãn nổi”! (Tứ Thư. NXB Hội Nhà văn, tr.32, 36).
Tính vĩnh hằng ấy đọng tại điểm quy chiếu: “dân yêu” hay “dân ghét”. Đấy chính là điểm quy chiếu của việc lựa chọn con người, con người của giai đoạn cứu nước cũng như con người trong giai đoạn giữ nước, dựng nước hôm nay.
Chất văn hoá, chất người của nhà cách mạng chuyên nghiệp Võ Văn Kiệt-Chín Hòa-Sáu Dân
Đúng là “giữ được thiên hạ không phải là dễ”, hiểu sâu sắc điều đó, khi ở cương vị người đứng đầu Chính phủ, Võ Văn Kiệt là người rất quyết đoán sau khi đã rất thận trọng lắng nghe nhiều ý kiến khác nhau trước khi đưa ra quyết định.
Ông nhiều lần bộc lộ: “kinh nghiệm của người lãnh đạo là phải biết lắng nghe rất kỹ ý kiến chuyên gia, và đã nghe thì phải nghe trực tiếp chứ không phải “nghe” thông qua thư ký truyền đạt lại”. Ông không chỉ nghe những ý kiến tán thành mà hết sức chú ý đến những lời phản đối.
Chính vì thế, như đồng chí Phạm Văn Đồng đã từng nhận xét: “Đánh giá đúng mức và khách quan thì, trong các đời Thủ tướng của Việt Nam, kể cả tôi, Thủ tướng Võ Văn Kiệt là người làm được nhiều việc và làm được nhiều việc tốt nhất” (Dấu ấn Võ Văn Kiệt, tr.297).
Về sau này, khi không còn ở cương vị chính thức, ông vẫn giữ được thói quen tiếp xúc và lắng nghe ấy. Ông nhiều lần nói với những anh em có trách nhiệm: nếu có dịp gặp những người chỉ trích phê phán ông hiện đang ở nước ngoài, ông sẵn sàng gặp gỡ để trao đổi với họ với niềm tin mãnh liệt rằng chắc chắn sẽ tìm được những ý tưởng gần nhau.
Chính vì thế mà đúng như nhà văn Nguyên Ngọc đã gợi ra, ông là người “biết quyết liệt và biết hoài nghi, dám quyết đoán và cũng dám tự mình nhìn lại và từ bỏ khi cần thiết những điều với mọi người và đối với chính mình hôm qua còn được đinh ninh là đúng. Dám kiên định đến cùng trong bão táp mà cũng dám tự nhìn lại và thay đổi ngay khi đã ở trên đỉnh cao của quyền lực”. Đó là phẩm tính trí thức của ông.
Có một nhận xét khác của Nguyên Ngọc rất đáng chú ý: “một trong những điều lạ tưởng chừng rất nhỏ nhoi ở ông là ông chơi thân với rất nhiều văn nghệ sĩ, gần gũi, giản dị, “la cà” với anh em, thương yêu và tôn trọng. Tôi thường nghĩ ông lắng nghe gì ở họ?
Có lẽ ông hiểu điều này : những anh chàng trông chừng rất tài tử và lơ mơ ấy, vậy mà bằng một điều gì đó như là bản năng, lại có thể là là những cái ăngten rất nhạy biết rung lên vì mỗi biến động còn rất nhỏ, rất sâu, còn mơ hồ lắm của đời sống.
Mà ông thì luôn tha thiết muốn nghe được chính cái đời sống ấy, từng chuyển động còn ẩn giấu, li ti của nó, để cắt nghĩa và tận dụng nó cho con người. Vậy đó, cho nên ông là nhà văn hóa, ông hiểu văn hóa trong nghĩa rộng và rất sâu của nó” (Tuổi Trẻ ngày 13/6/2008).
Chính cái chất văn hóa ấy đã khắc họa nên một hình ảnh Sáu Dân với những đường nét mà càng nhìn kỹ, nghĩ kỹ càng thấy những lung linh, cuốn hút.
Vì văn hóa chính là con người, ở đây là chất người nhuần nhị thấm đượm trong hành vi, cử chỉ, trong tư duy và hành động. Chất người hun đúc và tạo nên nét đặc trưng trong bản lĩnh chính trị của nhà cách mạng chuyên nghiệp Võ Văn Kiệt-Chín Hòa-Sáu Dân.
Chính cái chất người ấy tạo nên bản lĩnh chính trị của người có gốc gác nông dân Nam Bộ trở thành người chiến sĩ cách mạng, người cộng sản kiên cường và rồi người trí thức đích thực trong điều hành bộ máy quản lý nhà nước ở cương vị đứng đầu chính phủ.
Phải chăng chính chất người làm nên bản lĩnh Võ Văn Kiệt ấy đã khiến ông không thể “Tổ nhập” với những mô hình phản Mác Xít bị áp đặt của cách “đấu tố”, “khởi động lòng căm thù giai cấp” trong “cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức”, như trước đây anh thanh niên Chín Hòa không sao theo được đòi hỏi của thầy bùa: muốn luyện võ thành công thì phải “Tổ nhập”, mạc dầu quá ham luyện võ anh đã cả gan nhai nuốt bóng đèn!(xem Dấu ấn Võ Văn Kiệt, tr.288, 289).
Trong khi sự thoái hóa xuống cấp về nhân cách của một số cán bộ đảng viên do chạy theo tiền, theo danh, theo lợi đã phá hoại uy tín của Đảng, làm xói mòn niềm tin của dân ,thì nhân cách và bản lĩnh chính trị ấy của người cộng sản Võ Văn Kiệt có sức gọi dậy niềm tin, thuyết phục lòng người.
Chất người - tính nhân văn và bản lĩnh chính trị ấy bình sinh Sáu Dân đã để lại ấn tượng sâu đậm trong đồng chí, đồng đội, đồng bào thân yêu của ông, trong những bạn bè gần xa của ông.
Nhưng quả thật, khi ông nằm xuống rồi, trong sự chông chênh trống trải của sự mất mát, người ta mới phát hiện ra nhiều điều mà trước đây tưởng như đã hiểu về ông. Đúng là còn cần phải phát hiện.
Chắc chắn sự phát hiện ấy không dừng lại ở cột mốc 49 ngày mà rồi đây trong “dòng đời vẫn chảy vơi đầy…” người ta lại khát khao tìm đến ông, suy tư về ông, và phát hiện thêm về ông. Và rồi người ta nghiệm ra rằng, đúng như lời thơ của Việt Phương trong dịp 49 ngày này:
“Người còn đây giữa tuyến đầu người ơi”